13692-phan-3-chuyen-du-ngoan-cuoi-cung-chuong-8
Chương 8
Đi chừng chốc lát, cái kiệu chở Đường Lệ dừng trước một điện phủ nguy nga, mái lợp ngói âm dương, cột nhà gỗ lim dát đôi câu đối tả cảnh, ngay phía dưới có tấm bảng sơn son thiếp vàng đề ba chữ “Điện Bạch Cước”. Vào bên trong là cả khoảng sân rộng mênh mông cùng muôn vàn loại cây quý, hoa đẹp trồng theo dãy hành lang màu xanh lơ uốn lượn. Nói chung dinh thự rất đẹp nhưng cấu trúc hơi dị biệt, vì toàn bộ điện phủ bao gồm cổng cho tới mái ngói, lẫn trần các phòng đều rất cao, cao đến 20 – 30 trượng là ít, cao vượt hẳn những phủ xung quanh, tiên nữ cũng phải tự hỏi cớ sao cái nhà này phải xây cao quá đỗi.
Tia nắng nhỏ được dẫn vào một căn phòng rất đẹp, trang trí trang nhã, trướng rũ rèm che, bày trí sẵn gương lược, phấn son, cửa sổ mở ra khu vườn đầy nắng, góc nhìn khá lý tưởng cho việc vẽ tranh.
Một tỳ nữ kính cẩn thưa lên:
– Ngài ấy ra lệnh dọn dẹp, sắp xếp cả phủ suốt ngày hôm qua để đón lệnh bà vào, chẳng hay lệnh bà có vừa lòng không?
– Ta thích lắm, từ nhỏ đến lớn ta chưa từng được sống ở nơi nào đẹp thế này? Mà anh linh miêu sống ở đâu? – Đường Lệ tò mò hỏi.
– Bẩm! Ngài ấy sống ở nơi không xa đây lắm, sẽ thường xuyên tới thăm lệnh bà.
Đường Lệ nghe tin bằng hữu thường xuyên đến đây mà lòng vui rộn ràng. Sau khi cho hết đồ đạc vào phòng, tiên nữ bắt đầu đi khám phá khu dinh thự, đi hết ngóc ngách, lối lớn lối nhỏ, phòng khách, phòng bếp, đi vòng ra cả vườn sau. Giờ nhìn kỹ hơn trong sân vườn có hàng cây rất lạ, dù phân loại được vạn vạn loại thảo mộc khác nhau, tia nắng nhỏ vẫn không nhìn ra được rốt cuộc đây là loại cây gì. Thân cao lớn vượt trội hơn hết cây thân gỗ khác trong vườn, cành nhiều, khẳng khiu nhưng lá không dài, tàn lá đan xen vẫn chừa rất nhiều chỗ cho bóng nắng tràn cả sân. Ngước trông lên, nàng phát hiện nhiều lá cây hình thù quái dị, xanh hệt màu lá mà dáng tựa nụ hoa e ấp chờ ngày mãn khai. Khi hỏi các tỳ nữ, nàng chỉ nghe được câu trả lời đó là giống hoa đặc biệt của Linh Miêu tộc, khắp tam giới không đâu có nữa.
– Cây này không mọc được nơi khác sao? – Đường Lệ hỏi miêu nữ đứng ngay cạnh mình.
– Bẩm lệnh bà! Bọn tôi không biết, chỉ vì Linh Miêu tộc ít khi giao du với thế giới bên ngoài nên chưa từng mang giống cây này ra ngoài nên cũng không biết là trồng được không.
Tiên nữ nhìn hàng cây thêm một chút rồi bỏ sang nhìn mấy loại cây khác, và có dây hoa đậu biếc đập vào mắt làm nàng nảy ra ý hay. Linh miêu đã cho nàng vào dưỡng thương thì đâu thể ở không ăn bám người ta, sẵn biết bằng hữu ghé thăm, nàng sẽ dùng mấy bông hoa này nấu vài món đặc biệt.
Đúng y lời các tiên nữ nói ban sáng, ngay chiều tà, linh miêu đến thăm Đường Lệ, phần nàng cả ngày lui cui trong bếp đã nấu được mâm cơm thịnh soạn toàn một màu… xanh lam mơ màng. Linh miêu nhìn từ mâm thức ăn có cơm màu xanh, bánh màu xanh, cả nước trên bàn cũng màu xanh, liền hỏi đầy ngỡ ngàng.
– Em nấu món gì mà toàn màu xanh thế?
Nàng đáp lại:
– Thức ăn bình thường thôi chỉ thêm chút hoa đậu biếc hái được ngoài vườn. Hoa này ăn vào tốt lắm, vừa tốt tim mạch vừa giảm lo âu căng thẳng. Lúc còn ở Y Viện em hay nấu hoa này nhưng bạn học nhìn thức ăn màu xanh đều không muốn ăn, thành ra em cứ tự nấu tự ăn. Màu xanh lam trông rất đẹp chẳng hiểu sao mọi người lại chê.
– Em hợp tính ta đấy, ta thích màu xanh lam. – Linh miêu chỉ nói một câu rất ngắn mà làm lòng ai vui đến lạ.
Cả buổi chiều hai người ngồi ăn chung, vừa ăn vừa trò truyện hỏi han nhau đầy vui vẻ.
Linh miêu sống nơi nhà cao cửa rộng nhưng mỗi bữa cơm đều đơn lẻ giữa bao món ngon vật lạ, sống trong cô độc thì cao lương mỹ vị cũng nhạt hệt nước mưa. Từ ngày song thân qua đời, hôm nay mèo rừng mới lại thêm lần ăn cơm cùng ai đó. Món ăn không xa hoa, cơm canh bình thường mà ngon hơn cả trăm ngàn món ăn cầu kỳ bày vẽ hắn ăn thường ngày. Thức ăn ngon bởi người nấu khéo tay hay bởi cái tâm kẻ nấu đặt vào đã làm ai động lòng.
Ăn cơm xong, hai người ra vườn ngồi ngắm sao trời, Đường Lệ nói độc xà tinh đã được giải hết, chân nàng độ ba ngày sau sẽ hết đau, chắc sẽ sớm rời đi. Nàng hứa trước khi đi sẽ dọn dẹp nhà cửa sạch trả lại cho linh miêu, người đến nơi này ra sao thì lúc đi cũng y thế. Tuy vậy hắn vội ngăn ngay ý nghĩ ấy, hắn không cho phép nàng rời đi, hắn muốn giữ nàng bên cạnh.
– Tại sao anh muốn em ở lại đây? – Nàng thăm dò hắn.
– Vì em là… bằng hữu của ta, bằng hữu đầu tiên.
Cuối cùng hắn đã chịu thừa nhận, hắn xem Đường Lệ thành bằng hữu. Bàn tay mèo rừng chạm nhẹ vào má tiên nữ làm nàng giật thót nhưng hắn liền giải thích.
– Ta không làm gì em đâu, ta chỉ thấy em ấm lắm, ấm như mặt trời vậy.
Tia nắng nhỏ thẹn thùng đỏ hết mặt, lần đầu tiên trong đời có người thích hơi ấm từ nàng, có người thấy nàng là cả mặt trời chứ không phải là một hạt nắng rơi vô dụng. Ngồi chuyện trò hồi lâu, Đường Lệ ngủ quên mất, đầu tựa vào vai bằng hữu, linh miêu cứ để yên mà tận hưởng cảm giác ấm áp nhẹ nhàng. Nhìn mặt trời nhỏ nhắm mắt bình yên, hắn không hề có ý đánh thức nàng, hắn muốn giữ mãi hơi ấm này trong vòng tay, vĩnh viễn không xa rời.
Tưởng cả cuộc đời linh miêu này luôn luôn lẻ loi giữa tam giới, trái tim lạnh lẽo vĩnh hằng, chỉ kết bạn cùng quyền lực, khiến cả vùng phía nam hoảng sợ; nào ngờ đâu số phận mang đến cho hắn một mặt trời xua tan mây mù, làm tan chảy băng đá khóa cứng cửa lòng. Đêm ngoài đồng hoa cải, lần đầu tiên trong đời có người chịu hy sinh vì hắn ngoài song thân đã qua đời. Rồi thấy Đường Lệ đau đớn, mèo rừng không cầm lòng nổi. Miệng nói vì người giúp ta nên ta giúp lại nhưng thực sự cả ngàn nguyệt tinh xà cũng chẳng đủ làm rụng cái lông chân linh miêu. “Vì sao” không phải linh miêu hỏi Đường Lệ, đấy là hỏi chính mình vì sao nàng đau, lòng mình đau trăm lần hơn. Vì sao quyết giữ người ta lại đây, vì sao… vì đó là Đường Lệ.
Đêm rồi tàn, ngày mới rồi tới, Đường Lệ thức dậy trong căn phòng dọn vào hôm trước, định chạy xuống bếp làm vài món điểm tâm mời bằng hữu thì các tỳ nữ bảo hắn đi từ khi mặt trời chưa mọc. Tiên nữ hơi buồn nhưng nghĩ người ta bận bịu trăm công nghìn việc, đâu thể suốt ngày bên mình vui chơi, nàng cũng nhanh chóng nguôi ngoai.
Ba hôm sau, chân lành lặn lại, nàng ra chợ kinh thành dạo chơi. Người dân trong chợ nhìn nàng với vài phần kính trọng, kẻ còn sợ sệt cúi đầu như đang hành lễ. Tiên nữ đoán hẳn do lúc đón mình, bằng hữu cho kiệu lớn tới, rầm rộ quá khiến cả chợ xôn xao, chắc phải độ hơn tuần nữa mới bình thường lại. Nàng thấy có quầy rau bên đường bán ngải cứu trông khá ngon mắt, nhớ ra món rau này hầm chân giò hay hấp cá chép đều rất ngon, tiên nữ liền hỏi mua. Kẻ bán hàng mừng rơn cả người đưa nàng cả bó rau to dù tia nắng nhỏ hết mực từ chối vì sợ nhiều quá ăn không hết đâu, bỏ thì phí.
Nàng ghé qua vài quầy nữa mua ít cá chép, ít chân giò xong thì vào y quán nhờ lang trung bốc xem tình hình trúng độc của mình. Các miêu tiên trong chợ thấy Đường Lệ mua ngải cứu, cá chép, chân giò, còn đi tìm lang trung, đã bắt đầu bàn tán xôn xao: “Lệnh bà mua mấy thứ ấy còn đến y quán, liệu có phải đã… rồi không”. Kẻ khác nói chen vào: “Nếu đã thế mà còn đi bộ thì nguy hiểm quá, sao lệnh bà không đi kiệu nhỉ.”
Lang trung khám bệnh xong có bốc cho tiên nữ vài thang thuốc bổ, nàng vừa ôm thuốc ra khỏi cửa, đi ngang quầy rau lúc nãy, tên bán hàng vội vàng đưa nàng thêm bó tía tô.
– Lệnh bà mang hai thứ về sắc uống sẽ tốt lắm đấy, mà lệnh bà cần gọi kiệu không?
Đường Lệ biết thừa ngải cứu và tía tô sắc chung thành loại thuốc gì, nàng với linh miêu chỉ mới là bằng hữu mà bên ngoài đã thêu dệt điều tiếng không hay, tiên nữ lập tức biện hộ.
– Bác đừng hiểu lầm, hai đứa bọn cháu chỉ là bạn hữu bình thường thôi.
– Vậy ngài ấy…
Đến đây kẻ bán rau không dám nói tiếp, lặng lẽ lùi ra xa. Đợi Đường Lệ đi khuất, hắn mới nói nhỏ: “Cả đời ngài ấy chỉ gần gũi một người duy nhất, đón hẳn vào ở cùng thì chuyện đó chẳng chóng thì chày cũng xảy đến, ngài ấy sẽ sớm có hậu duệ kế thừa cơ đồ thôi.”
Khi biết bản thân không còn nguy hiểm bởi độc tố, thêm ở trong dinh thự mãi thành buồn, Đường Lệ dần đi làm hai việc quen thuộc: tìm thảo dược và vẽ tranh. Vùng đất phương nam, thảo dược cũng nhiều điểm khác biệt những chốn từng đi qua, tiên nữ tha hồ hái về nghiên cứu, bào chế thuốc, có gì không biết thì ra y quán hỏi người ta. Tuy nhiên tu luyện y thuật tinh thông từ nhỏ, việc nhận diện, học hỏi thêm về dược liệu mới chẳng làm khó nàng được lâu, mấy chốc tiên nữ đã thuộc hết những loại thảo dược phía nam, đã đủ sức đi chữa bệnh. Nàng đương nhiên không thích giành chén cơm của người khác nên chỉ chủ yếu chữa bệnh cho những gia đình nghèo chẳng đủ tiền tìm thầy thuốc hoặc những bệnh nhân mang bệnh ghê gớm không mấy ai dám đến gần xem xét. Như có dạo đi hái thuốc xa, Đường Lệ nghe loáng thoáng việc làng nọ người dân nghèo nàn, chỉ sống tạm bợ, điều kiện sống kém nên vô tình mắc phải chứng bệnh nghiêm trọng. Bệnh nhân nào cũng nổi mụn mưng mủ vàng, lại là bệnh ngoài da, vô cùng dễ lây lan. Sợ dịch lây lan, cả vùng ấy bị rào lại, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Tia nắng nhỏ tính dễ động lòng, biết chuyện ấy nàng liền tìm tới làng, định bụng phụ giúp chữa trị. Ban đầu tiên nữ muốn đường đường chính chính vào làng nhưng bị binh lính ngăn lại, họ sợ nàng có bề nào sẽ khiến cả bọn rơi đầu. Tia nắng nhỏ há hốc mồm kinh ngạc, bao năm hành y giúp đời, lần đầu tiên nàng nghe có chuyện mình đi chữa bệnh mà kẻ khác vạ lây. Nhưng lương tâm nghề thuốc không cho phép nàng thấy chết ngó lơ, cấm ban ngày, nàng tìm cách lẻn vào ban đêm.
Trong đêm tối mịt mờ, trông những thân thể lở loét đầy mụn nước lẫn vảy mủ vàng nằm lê lết khắp nơi, Đường Lệ đã nhận ra đây là bệnh chốc loét, nguyên nhân thường bắt nguồn từ môi trường sống không đảm bảo vệ sinh. Bệnh này nói ra chữa không khó, thảo dược nàng cần gồm bạch hoa xà, mật ong, hành, cũng có thể dùng hạt bưởi hoặc cây sài đất. Tia nắng nhỏ động viên mọi người đừng lo lắng, nàng là sư muội của Dược Thần, chứng bệnh này chắc chắn trị được, ngày mai nàng sẽ mang thuốc tới. Nói là làm, cả ngày quần quật trong rừng, tiên nữ đã hái được vô số bạch hoa xà. Trong đêm tối nàng cố trừng mắt lên rửa sạch, ngâm muối thảo dược rồi mới giã ra đắp cho người bệnh. Nhiều người mẫn cảm với bạch hoa xà, đắp vào thấy nóng rát, tiên nữ phải đổi sang dùng hành hoa và mật ong. Hành giã ra rất cay mắt, lại còn số lượng nhiều nhưng nghĩ tới bao nhiêu sinh mạng bị giam lỏng, quằn quại trong bệnh tật, Đường Lệ cố sức tỉnh táo làm thuốc tiếp.
Băng đắp thuốc cho một phần dân làng, tia nắng nhỏ mệt rã rời, đành ngồi xuống nghỉ lấy sức. Nhìn quanh quất làng, nàng cất tiếng nói.
– Nơi này môi trường sống kém quá, thảo nào dễ có bệnh ngoài da.
– Chúng tôi thật chẳng biết làm sao bây giờ. Nơi đây hẻo lánh, chủ yếu sống dựa vào một hồ nước duy nhất, qua một trận sạt lở lớn, đá lở chặn dòng nước gây dồn ứ không thoát, hồ nước ngày càng bẩn thỉu vì đất đá, rác rến. Nam nhân trai tráng trong làng đa phần đi xa làm ăn hết. Mọi người chỉ dùng chút sức lực yếu ớt để mở dòng chảy, nhưng làm mãi chẳng khai thông nổi, còn mang thêm bệnh về. – Một bà lão trong làng ngậm ngùi kể.
– Chữa bệnh cho mọi người xong cháu sẽ nhờ bằng hữu giúp mọi người khai thông nguồn nước. Anh ấy làm quan trên kinh thành, chắc có thể xin phép đưa người tới đây giúp đỡ. Việc này hẳn chẳng ai từ chối đâu.
Lão bà linh miêu hỏi tới.
– Lão đây có cũng cháu trai làm lính gác nơi kinh thành, vì dịch bệnh này nó bị ngăn về làng. Bằng hữu cô làm quan ở phủ nào, biết đâu cháu lão từng nghe qua.
Tiên nữ thật thà kể.
– Anh ấy có phủ điện tên Điện Bạch Cước. Bác từng nghe chứ?
Đường Lệ vừa nhắc tới Điện Bạch Cước, dân làng đều giật mình, người nhìn nàng ngỡ ngàng, kẻ lại nghi hoặc. Lão bà lúc nãy lắp bắp hỏi tiên nữ.
– Dám hỏi cô đây tên là gì?
Tia nắng nhỏ vô tư đáp.
– Cháu tên Đường Lệ.
Lúc này cả làng lập tức quỳ mọp xuống.
– Hóa ra lệnh bà đại giá quang lâm. Không ra đón tiếp từ xa, chúng thảo dân quả có tội.
Giờ đến lượt tia nắng nhỏ hoảng hồn khi cả dân làng hành lễ với mình, nàng luống cuống gọi mọi người mau đứng lên, đừng làm nàng khó xử. Nhưng khi hỏi người trong làng rằng biết bằng hữu của nàng sao, người ấy rốt cuộc là ai, tại sao nhắc đến ai cũng đều sợ sệt, thì chẳng câu trả lời nào được thốt lên, chỉ biết nếu nàng là nữ nhân của nam tử ấy thì cả Linh Miêu tộc đều phải kính nể.
Có lão mèo già ngâm hai câu thơ.
– “Xích vân đôi dã khởi/ Bạch cước phạm sa hành.” (*). Bao giờ lệnh bà hiểu hết ẩn ý hai câu thơ này sẽ tự mình biết chuyện.
Hai câu thơ dịch ra rất dễ hiểu.
“Mây đỏ đùn đồng nội
Chân trần lội cát chìm.”
Vậy thì còn ẩn ý sâu xa nào chứ. Tiên nữ nghĩ mãi chẳng ra thôi đành bỏ cuộc, quay lại với công việc giã thuốc.
Giúp dân làng được thời gian, đa phần mọi người đã lành bệnh, vài kẻ bắt đầu đứng lên dọn dẹp cho sạch sẽ lòng sông. Phần Đường Lệ phụ dọn dẹp rồi còn đi tìm thêm chút thuốc men. Đang ban trưa, lầm lũi trong trời nắng gắt tìm hái bạch hoa xà, tiên nữ bất ngờ phát hiện mấy dấu chân khổng lồ, dấu chân tưởng dễ dàng nuốt gọn luôn cả bàn chân nhỏ bé của nàng. Đây là bàn chân hổ, nàng học y thuật cũng học về động vật nên nhanh chóng nhận diện được dấu vết nhiều giống loài. Từ ngày đến Linh Miêu tộc nàng chưa từng thấy con hổ nào nhưng lòng luôn biết ở đây có hổ, là Miêu Vương. Tiên nữ nhìn theo dấu chân rồi ra tít đằng xa chợt thấy một vần mây đỏ đùn đùn nơi góc rừng. Đang ban trưa mây đỏ đâu kéo tới chứ, vì tò mò, Đường Lệ chạy về hướng “đám mây” kia, nhưng chạy tới càng gần càng thấy thứ ấy không phải mây. Đến đủ gần, tia nắng nhỏ phát hiện vật đỏ rực tựa mây chiều đó là lông hổ, một con hổ cao mười trượng đứng trong rừng. Xung quanh rất nhiều binh lính linh miêu đang bẩm báo thông tin:
– Bẩm tộc chủ! Mọi chuyện đã sẵn sàng tới giúp làng nhỏ khai thông hồ nước, tiện giúp họ sửa chữa luôn nhà cửa, khơi rộng đường đi. Do vùng này hoang vu hẻo lánh, đường đi khó khăn thành ra tin tức lẫn hỗ trợ đều chậm trễ. Giờ nâng cấp đường xá chắc chắn sau này không diễn ra việc như bây giờ nữa.
Tia nắng nhỏ đứng nghe trộm mấy câu cũng đoán ra Miêu Vương rất lo lắng do bá tánh dưới trướng mình, hắn ta chẳng phải hôn quân bạo chúa, lời đồn đại quả nhiên không nên tin hoàn toàn.
Nghĩ còn đang hái thuốc cho dân làng, thêm người ta là tộc chủ quyền cao chức trọng, quen biết gì tiên nữ nhỏ bé như mình mà ra mặt, bởi vậy tia nắng nhỏ âm thầm rời đi. Nàng cất bước, không hay biết một cặp mắt quen thuộc đang nhìn theo, lời nói ngậm thùi ai oán thốt lên: “Ta biết ngay mà!”
Quá trưa vài canh giờ có toán linh miêu đến làng giúp khai mở dòng chảy, giúp Đường Lệ chăm sóc người bệnh. Tuy nhiên nhìn tới nhìn lui cả ngày, tia nắng nhỏ chẳng thấy Miêu Vương đâu, hay kẻ đó điều động binh lính sửa đường núi bên ngoài. Tận chiều tối thì bằng hữu của tiên nữ tìm tới, nàng hớn hở đến nắm tay linh miêu hỏi han.
– Anh cũng nghe lệnh Miêu Vương sang hỗ trợ dân làng à? Người anh sao đầy bùn đất thế này.
Hắn cười cười nói vì đi sửa đường núi, chốn đấy nhiều bùn đất là hiển nhiên mà ngẫm lại việc cứu trợ này sao tận bây giờ mới chịu nói cùng hắn, úp úp mở mở, bực cả người. Chợt nhìn vào mắt mèo rừng, nàng hỏi.
– Anh có chuyện buồn đúng không? Mắt anh buồn lắm.
– Em nhìn ra sao? Đúng là ta đang rất buồn nhưng đừng hỏi nguyên nhân, ta không muốn nhắc lại.
Hiểu tính người ta, Đường Lệ liền nói sang chuyện khác:
– Anh vào ăn cơm cùng mọi người cho vui, chiều nay em có nấu đọt nhãn lồng, anh ăn thử đi, vừa ngon vừa bổ.
Thường khi giới thiệu món ăn lạ, linh miêu sẽ rất hào hứng hỏi tới tấp, duy lần này hắn chỉ gật đầu chiếu lệ cho có. Suốt buổi cơm, tiên nữ chú ý thấy hắn vẫn rất buồn, buồn hơn cả ngày mới quen, quầng tối u ám mờ mịt che khuất hết những ánh sao trong đôi mắt. Tối đó lúc hắn nằm ngủ trên cái chõng, tia nắng nhỏ đến cạnh bên, bàn tay đặt nhẹ lên bàn tay hắn, nói lời an ủi:
– Anh đừng buồn nữa, sống trên đời sao tránh được chuyện buồn, sau này xong hết việc hai ta cùng đi vẽ tranh cho quên sầu nhé.
Bàn tay nồng nàn sưởi ấm trái tim lạnh lẽo trong đêm làm hắn nguôi ngoai mấy phần.
– Ta không buồn nữa đâu, chuyện đó cũng do ta mà ra. Ta quen rồi.
Hai người chỉ nằm bên nhau bình lặng cả đêm nhưng dân làng cứ mừng thầm bảo: “Ngài ấy có nữ nhân tốt nhường đấy thực đại phúc, dân trong tộc cũng được hưởng phước lây.”
(*) Nhiệt Thời Tác – Cao Bá Quát.





