6657-vi-lang
“…Về nguồn gốc của Ánh Sáng Nguyên Thủy, các nhà khoa học đã đưa ra rất nhiều giả thuyết. Trong đó, giả thuyết nhận được nhiều sự đồng tình nhất cho rằng, Ánh Sáng Nguyên Thủy xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước Văn Lang-Âu Lạc, tức khoảng từ năm 2879 trước Công Nguyên (TCN) tới năm 258 TCN.
[…] Cuốn Đại Việt Sử Lược của sử gia Trần Phổ, bản hiệu đính lưu hành trong các Mảnh Sáng viết: ‘Đến đời Trang Vương nhà Chu (696-682 TCN), ở Cổ Loa có sinh ra thứ ánh sáng lạ, rải khắp đất trời. Ở bộ Gia Ninh có người dùng ánh sáng đó áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục thuần hậu, chất phác…’
Các Mảnh Sáng đầu tiên dưới hình thức xã hội khép kín, chỉ chính thức hình thành dưới thời vua An Dương Vương (khoảng năm 257 TCN đến 208 TCN).
Cuốn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản cho lưu hành trong các Mảnh Sáng, chép: ‘… Ất Tỵ, năm thứ Hai (258 TCN), vua thấy trong nước có nhiều tộc người man di biết phép lạ, có thể hô phong hoán vũ, muốn mang về trọng dụng. Thủ lĩnh tộc man di ở Bắc Phong Châu có ý muốn lập tộc riêng, không can dự tới việc nước. Vua đem quân đi dẹp loạn mấy lần, nhưng đều thất bại.
Bấy giờ Thục Vương đắp thành ở Việt Thường, […] gọi là Loa Thành […] Thành này cứ đắp xong lại sụt, vua lấy làm lo, mới trai giới khấn trời đất và thần kỳ núi sông, rồi khởi công đắp lại.
Bính Ngọ, năm thứ Ba (259 TCN) Mùa xuân, tháng 3, tộc trưởng tộc người man di ở Bắc Phong Châu đến tâu vua xin giúp đắp thành. Vua đồng ý không đem quân chinh phạt nữa. Bấy giờ mới mang theo Rùa Vàng khổng lồ cùng vua đi diệt yêu nghiệt trong núi Thất Diệu. Yêu nghiệt chết, vua đem xác đi hỏa táng, rải tro cốt xuống sông. Từ đó yêu khí mất hẳn, thành đắp không quá nửa tháng là xong. Vua giữ lời cho các tộc người man di lập tộc riêng, nhưng phải hứa không dùng phép lạ hại nước…’
Tới năm Mậu Thìn 968, sau khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai sứ quân, có thương thảo với các bộ tộc lớn sử dụng phép lạ thời bấy giờ, phân chia ranh giới địa lý rõ rệt giữa các vùng đất có chứa ánh sáng, gọi là Quang Châu (nay gọi là ‘’Mảnh Sáng’), và các vùng đất không chứa ánh sáng, gọi là Vĩnh Châu (nay gọi là ‘Mảnh Gương’)…”
– trích ‘Lũng Mây Sử Lược’ của Hoàng Lý Diệu Ngân, 1969, tái bản lần thứ 15-
***
Chiều hôm đó, Tùng Linh dẫn cả Đăng Minh và Hạnh ‘vào làng’.
Chỉ vừa mới có một ngày trước đó, hai chữ ‘vào làng’ còn khiến Đăng Minh ngán ngẩm, thậm chí là gắt gỏng với Hạnh và A Xáng. Ấy vậy mà giờ nó lại vô cùng hào hứng. Nó cảm thấy mình như Alice lạc vào xứ sở diệu kì, háo hức chờ đón tất cả những điều kỳ ảo khó tin sắp xảy ra ngay trước mắt.
Những thứ mà trước nay nó vốn chỉ nhìn thấy trên phim ảnh.
Khu trung tâm của Lũng Mây nằm ở phía bên kia quả đồi Đá Biếc. Đi qua hành lang dài dằng dặc nối từ nhà khách tới cổng chính của Đe Lửa mới thực sự vào đến làng.
Quầy lễ tân của Đe Lửa, khác với phong cách ‘hầm trú ẩn’ của khu nhà trong núi, nằm trong một sảnh lớn vô cùng khang trang. Trần nhà cao tới chục mét, rộng cả trăm mét, toàn bộ được ốp gỗ đen láng, xung quanh treo những tấm rèm tre lớn với nhiều hình vẽ tinh xảo. Trướng thêu bằng nhiễu đỏ, chỉ vàng. Sàn nhà lát gỗ đã lên nước nâu bóng, sáng loáng, âm vang từng bước chân. Đứng trực sau chiếc bàn đá dài chục mét cao ngang hông là hơn chục nhân viên lễ tân với đồng phục là chiếc khăn choàng nửa người màu đỏ mận, trên ngực trái có thêu hình một con chim lửa. Giống hệt chiếc áo Tùng Linh mặc vào hôm đầu tiên gặp tụi nó. Nhìn thấy bọn trẻ bước ra, một chị lễ tân với mái tóc dài búi gọn cúi đầu mỉm cười: “Chúc quý khách một ngày vui vẻ.”
Giữa sảnh là một đài phun nước lớn, với bức tượng hình con chim lửa bằng đồng đỏ đang giang cánh. Phía trên, gần trần nhà là hàng loạt những chiếc đèn trứng cỡ lớn làm bằng đá trắng trong suốt với hàng loạt hình thù đẽo gọt công phu, LƠ LỬNG giữa không trung. Thỉnh thoảng, một vài con chim lửa bé bằng nắm tay thình lình vọt ra từ những ‘quả trứng’, lượn một vòng trên trần, kéo theo vệt sáng màu cam lân tinh lóng lánh.
Đăng Minh há hốc. Không ngờ có thể tìm thấy một nơi ‘sang chảnh’ như thế này ngay giữa núi rừng âm u của Lũng Mây. Còn đang đờ người ra cảm thán, thì A Xáng đã hăm hở kéo nó ra ngoài phố.
Khung cảnh hiện ra trước mắt còn khiến Đăng Minh ngỡ ngàng hơn nữa.
Con phố lớn lát đá xanh xám, nhẵn thín, nhộn nhịp người. Hai bên đường, nhà cửa tương đối thấp, quét vôi trắng hoặc vàng. Mái cong lát ngói âm dương đã ngả màu xanh xám. Cột chống bằng gỗ chắc nịch, chạm trổ hình long vân. Sàn nhà cao hơn mặt đường khoảng ba, bốn chục phân, cửa gỗ xếp nhiều màu, bên trên gắn quyển thư với nhiều chữ Hán. Hầu hết mở cửa bán hàng.
Người đi lại nườm nượp.
Đăng Minh há hốc nhìn quanh, cảm tưởng như mình đang lạc vào một phiên chợ vùng cao được tổ chức giữa khu phố cổ đông đúc hiện đại. Người ở đây ăn mặc khá đa dạng. Có người mặc trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số và Hán phục, có người chỉ mặc trang phục cách tân cùng quần áo hiện đại, có người lại mặc đồ tây hoàn toàn. Nhưng tuyệt nhiên ai cũng khoác lên người một chiếc khăn choàng ngắn bên ngoài, giống như Tùng Linh hoặc cô gái có đôi mắt mèo từng mặc.
“Này, tôi hỏi,” Đăng Minh tò mò khều khều Tùng Linh. “Tại sao ở đây ai cũng mặc cái áo choàng ngắn không tay trông giống khăn ở ngoài thế?”
“Áo Piêu,” Tùng Linh cười giải thích. “Trang phục ở Lũng Mây đấy. Chỗ này quanh năm mây phủ, nhất là sáng sớm với về chiều, áo vừa để giữ ấm lại vừa che sương mù. À, còn cái tên là gọi theo chiếc khăn Piêu đội đầu của phụ nữ dân tộc Thái, do những chiếc áo đầu tiên được làm với hoa văn lấy cảm hứng từ khăn Piêu. Nói chính xác thì ngày xửa ngày xưa, áo Piêu trông không khác gì khăn Piêu khổng lồ ý. Sau này người ta may thêm khuy áo, cài khóa, rồi cũng không dùng hoa văn và chất liệu giống khăn Piêu truyền thống của người Thái nữa, nhưng vẫn gọi là áo Piêu.”
Tùng Linh giải thích cả tràng rành rọt, gãy gọn bằng giọng điệu hết sức tự nhiên, như thể lịch sử văn hóa Lũng Mây là thứ nó thuộc nằm lòng. Đăng Minh tặc lưỡi, tự dưng có tí nể phục. Bảo nó thử giải thích về lịch sử áo dài cho người nước ngoài thì chắc nó chỉ còn nước bó tay.
Bọn trẻ tiếp tục chậm rãi tản bộ dưới hai hàng cây cổ thụ cao lớn thân ba người ôm đang vào mùa thay lá, vàng rực như màu nắng.
Dưới gốc cây là la liệt các xe đẩy nhỏ bán quà bánh. Đăng Minh hớn hở nhìn ngó xung quanh. Ngoài xôi, chè là những thứ quen thuộc, còn có không ít những thứ kì quái khác. Từ những bắp ngô luộc đỏ au như lựu, nổ tanh tách trong miệng khi ăn, cho tới thùng kẹo kéo đổi màu liên tục mỗi lần kéo khiến bọn trẻ con cứ há hốc nhìn theo.
Thứ gì cũng mới, cũng thú vị. Đăng Minh ngoác miệng cười sung sướng, tâm trạng cứ thế mà lên như diều được gió.
Tùng Linh tỏ ra là một đứa vô cùng rộng rãi, hiếu khách. Đi qua khoảng năm hàng, tay nó đã lủ khủ đủ thứ linh tinh hầm bà lằng nào xôi nếp nướng, nào bánh tẻ chay, kẹo mạch nha, nước gạo ép. Sau khi tống hết cả đống vào tay A Xáng, Tùng Linh giơ ra trước mặt Hạnh một que kẹo bông màu trắng xà cừ óng ánh: “Cho bạn này, Hồ Thu!”
“Hồ Thu?” Đăng Minh thắc mắc hỏi ngay.
“Ừ, từ giờ tôi sẽ gọi Hạnh là Hồ Thu,” Tùng Linh thản nhiên quay qua đáp. “Vì mắt bạn ấy rất đẹp, sâu thẳm sóng sánh như nước hồ mùa thu vậy.”
Đăng Minh há hốc miệng, ánh mắt đã chuyển qua chế độ khinh bỉ. Hạnh lại có vẻ ngại ngùng trước sự nịnh nọt trắng trợn của Tùng Linh, con bé không nói gì, chỉ bẽn lẽn đưa tay đỡ lấy cây kẹo bông trên tay thằng này.
Nhưng Hạnh còn chưa kịp đưa tay còn lại lên chạm vào cây kẹo, cả chùm bông óng ánh xà cừ đã bất thình lình bay vọt lên không trung, lượn một vòng như trêu ngươi tụi nó trước khi bay tít về phía cuối đường.
Trong khi Hạnh và Đăng Minh còn chưa kịp hoàn hồn, A Xáng đã hăm hở chạy rượt theo túm kẹo bông. Giọng nó í ới vẳng lại: “Để cak[1]! Đợi cak! Lần này em nhất quyết bắt được nó.”
A Xáng vốn là đứa nhanh nhẹn hơn người, lại ở nhà lâu ngày cuồng chân nên còn có phần thừa năng lượng. Nó mải miết chạy theo túm kẹo bông, xiên trái, quàng phải. Nhưng túm kẹo dường như tinh quái hơn nó tưởng rất nhiều, cứ lởn vởn trước mặt A Xáng, khi thì là là gần mặt đất , lại thình lình vọt hẳn lên cao, rồi có khi đang lao vun vút lại bất thần đổi hướng làm A Xáng ngã dúi dụi. Quần thảo như thế chừng mười phút thì A Xáng có vẻ mất bình tĩnh. Nó ngồi phịch xuống, thở không ra hơi.
Lúc này Tùng Linh mới từ tốn quay qua Hạnh hỏi xin cây que trên tay con bé. Rồi với một động tác ngắm bắn rất chuyên nghiệp, nó phi chiếc que lên không trung. Túm kẹo bông đang bay lộn vèo vèo, giật đùng đùng lên xuống, bị cây que xiên trúng ngọt sớt thì lập tức bất động rơi xuống. Tùng Linh đưa tay đón lấy cây kẹo rất điệu nghệ rồi đưa ra trước mặt Hạnh: “Cẩn thận, đừng để mây của bạn bay mất như thế chứ?”
Hạnh cười thích chí, đón lấy cây kẹo từ tay Tùng Linh: “Hay quá! Cảm ơn bạn nha.”
“Có gì đâu,” Tùng Linh nghiêng đầu, nheo mắt. “Bạn vui thì tôi cũng vui nữa mà.”
Đăng Minh nhìn Tùng Linh, càng nhìn càng thấy nóng mắt. Rõ ràng thằng này cố tình mua cây kẹo bông biết bay để có cơ hội ‘lấy le’ với Hạnh. Đã thế, chẳng ngờ nó còn là đứa dẻo miệng, giỏi nịnh hót. Riêng việc nhìn vào mắt con nhà người ta mà nghĩ ra cái hình ảnh hồ nước mùa thu đã là sến sẩm lắm rồi, lại còn thản nhiên nói được ra miệng những lời như thế, da mặt phải dày tới cả tấc.
Đăng Minh hừ một tiếng tức tối, quay qua Hạnh. Chưa kịp mở miệng chê bai câu nào, thì một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu. Nó lại lập tức xoay qua phía Tùng Linh: “Này… tôi hỏi… nếu kẹo bông cũng bay được, thì người Lũng Mây có biết bay không?”
“Bay?” Tùng Linh ngạc nhiên, nhưng vẫn trả lời: “Dĩ nhiên là được. Không hẳn có thể bay lượn như chim… nhưng vẫn có thể bay lơ lửng trong phút chốc, hoặc có thể dùng các phương tiện như quạt mo, quạt giấy… À, như anh có thể dùng cả pang ki… Nhưng sao anh hỏi vậy?”
“Tao… ờ… tôi đang nghĩ là nếu người cũng biết bay, thì cô gái mắt mèo hôm trước có thể đã thoát thân rồi?”
“Có thể lắm!” Tùng Linh gật gù: “Theo miêu tả của anh thì cô gái đó mặc áo Piêu, hẳn là người Lũng Mây, vậy thì khả năng cao cô ấy không rơi xuống vực…”
Đăng Minh gật gù theo, cảm thấy an tâm hơn đôi chút. Từ hôm qua tới giờ, nó vẫn canh cánh trong lòng về sự biến mất của ân nhân cứu mạng. Giờ nghe Tùng Linh khẳng định thế, nó cũng thấy có chút nhẹ lòng. Chẳng rõ vì lí do gì, Đăng Minh luôn có cảm giác nó đã gặp cô gái có đôi mắt mèo ở đâu đó từ trước. Hôm qua còn thảng thốt, nó chẳng thể suy nghĩ rõ ràng, nhưng càng nhớ lại, nó lại càng thấy cô gái có cái gì đó rất quen thuộc.
“Tại sao…” giọng Hạnh rụt rè vang lên bên cạnh. Đôi mắt huyền của con bé cứ nhìn Đăng Minh chăm chú: “Tại sao.. cậu lại có vẻ quan tâm đặc biệt tới cô gái mắt mèo đó thế?…”
“Ơ…” Đăng Minh lắp bắp, không hiểu sao lại cảm thấy bối rối: “Người… người ta cứu mạng tớ mà? Chẳng phải là nên quan tâm hay sao?”
“Chỉ thế thôi à?” Hạnh vẫn nhìn chăm chú.
Ánh mắt long lanh của Hạnh không hiểu sao làm Đăng Minh lúng túng. Nó gật đầu lấy lệ, rồi cắm cúi đi về phía trước, không lí giải nổi sự bối rối trong đầu.
***
Bước chân hiên ngang chỉ năm bước đã khựng ngay lại. Ánh mắt Đăng Minh đổ về bóng đen lừng lững như che khuất cả một khoảng trời phía cuối con đường lát đá. Trái với vẻ sống động màu sắc của con phố đông người bên dưới, cái khối đen đặc to như một tòa nhà cao tầng, vươn cao, xuyên qua làn mây là là lưng chừng trời, tỏa nhánh tua tủa như những bàn tay gân guốc vươn ra khắp hướng.
Màu đen im lìm và chết chóc.
“Cái…cái kia.. là cái gì thế?” Đăng Minh lắp bắp trỏ về phía cuối đường.
“À,” Tùng Linh tươi cười. “Cái đó hả? Đó là Ngọn Sáp.”
“Ngọn Sáp?” Đăng Minh hỏi lại, cảm thấy ngờ ngợ nó đã nghe cái tên này ở đâu: “Hình như hôm trước thằng A Xáng có nhắc tới cái Ngọn gì đó khác…”
“Ngọn Sét đó anh. Đúng nó đấy ạ!” A Xáng láu táu nhảy vào câu chuyện: “Nor là Ngọn Sáp, niềm tự hào của Lũng Mây, biểu tượng tri thức ngàn năm của Đại Việt, giờ là nơi hội tụ của những bộ não hàng đầu các Mảnh Sáng, cũng chính là hình ảnh nằm trên phù điêu của Lũng Mây. Chính là nó cak ạ!”
A Xáng liến thoắng cả tràng, không khác gì nhân viên bán hàng đa cấp chuyên nghiệp. Vừa nói, nó vừa ưỡn ngực, mặt vênh váo. Cho nó mặc thêm bộ vét, người ta sẽ nghĩ nó đang trên đường đi kiếm tài trợ cho dự án start-up nào đó tên là Ngọn Sáp.
“Thế Ngọn Sét thì là cái gì?” Đăng Minh vẫn chưa hiểu.
“À, bọn trẻ con ở đây hay gọi thế,” Tùng Linh ôn tồn trả lời. “Ngọn Sáp trước đây là một cây cổ thụ lớn. Sau cuộc chiến Thác Đêm thì nó bị thiêu trụi nên thành ra đen thui như bây giờ. Nhìn chẳng khác gì sét đánh, nên trẻ con cứ gọi là Ngọn Sét.”
“Cây… cây cổ thụ?” Đăng Minh há hốc, không thể tin nổi trên đời lại có cây cổ thụ nào to sừng sững như một ngọn núi như thế. Nhưng nghĩ lại thì con chim của nó cũng đã to gấp trăm lần kích thước của một con chim cảnh thông thường. Đăng Minh chép miệng: “Ở Lũng Mây này, cái gì cũng phải to ngất ngưởng ra ấy nhỉ?”
Lời cảm thán hết sức hồn nhiên của Đăng Minh làm A Xáng bụm miệng cười khúc khích. Nó hỏi, giọng đắc thắng: “Giờ anh thấy thế nào? Có đủ to đẹp như thư viện ở Hà Nội của anh không?”
Đăng Minh nghiến răng, tự dưng thấy ngượng. A Xáng hẳn vẫn còn chưa hết ấm ức chuyện nó đã lớn tiếng chê bai cái ‘thư viện làng’ với ‘vài ba cuốn sách’ của Lũng Mây, mà hoàn toàn không hề biết Ngọn Sáp còn có thể đủ sức chứa tới vài chục cái thư viện Quốc Gia bên trong.
Đăng Minh nuốt nước bọt, cố gắng cười gượng: “Ừ đúng là Ngọn Sáp có nhỉnh hơn chút.”
Người cao ngạo như Đăng Minh, phải xuống nước xưa nay vốn là điều hiếm thấy. Dù chút tự tôn cuối cùng vẫn khiến nó cố nói ‘nhỉnh hơn chút’ để gỡ gạc tí thể diện. Nhưng A Xáng ngây thơ sao hiểu được những thứ lắt léo như thế, thằng nhóc cười khanh khách, bô bô: “Thế mà hôm trước anh nói cái gì mà ‘Cái làng của mày bé tí. Điện đóm hay internet đều chẳng có. Thế mà còn đòi cái gì mà nhất, cái gì mà tự hào?’…”
Đăng Minh nghiến răng, mặt mũi đỏ bừng lên trong phút chốc. Nghe lại từng câu từng chữ mình từng thốt ra từ miệng thằng nhãi A Xáng, nó chỉ thấy mất mặt. Hai tay nó siết chặt, run lên vì giận.
Rất may là Tùng Linh lại không phải đứa ngây thơ bàng quan như A Xáng. Thấy sắc mặt tím tái của Đăng Minh, Tùng Linh lập tức chau mày: “A Xáng, em nói chuyện với khách kiểu gì đấy?”
Giọng nói điềm đạm nhưng lại đặc biệt có sức nặng, A Xáng lập tức im bặt. Nó cúi đầu vẻ hối lỗi, lặng lẽ đi xuống phía sau. Tùng Linh sau khi trách phạt A Xáng thì thản nhiên quay qua Hạnh và Đăng Minh: “Các bạn đừng để bụng, A Xáng còn nhỏ, đôi lúc còn chưa hiểu chuyện.”
Thế nhưng phong cách “đại ca” của Tùng Linh lại làm cho Đăng Minh nóng mắt.
Nói cho cùng thì hình như thằng này có làm gì cũng khiến Đăng Minh nóng mắt được. Rõ ràng Tùng Linh vừa mới lên tiếng bênh vực nó, nhưng Đăng Minh vẫn thấy tức anh ách. Nó lén quay sang Hạnh, thì thào ‘Nói xấu sau lưng’ theo đúng nghĩa đen: “Thằng Tùng Linh này là cái gì mà sao hống hách thế? Còn thằng A Xáng nợ nó cái gì hay sao mà nó nói gì cũng răm rắp nghe theo thế?”
Nhưng thay vì hùa theo, Hạnh lại nhìn Đăng Minh với ánh mắt ngạc nhiên đến há hốc: “Cậu nói gì thế? Chứ cậu chưa nhận ra à?”
“Nhận ra cái gì?” Đăng Minh chột dạ.
“Cậu thông minh như thế, nhưng có lúc lại khù khờ thật đấy,” Hạnh cảm khái, rồi không để thằng này lên tiếng cự cãi, con bé hạ giọng thì thào: “Thì Linh chính là cậu chủ của Đe Lửa mà.”
“Cậu…cậu chủ…” Đăng Minh lắp bắp: “Tức là… tức là…”
“Tức là người sẽ thừa kế Đe Lửa trong tương lai,” Hạnh tiếp lời ngay. “A Xáng là người làm trong nhà, dĩ nhiên phải nghe lời cậu chủ rồi.”
Đăng Minh đớ người. Không ngờ rằng nó lại đang giao du với một thằng thiếu gia con giời, nắm trong tay cơ ngơi khủng khiếp như Đe Lửa. Giờ nghĩ lại thì cả chú Như Nghệ và A Xáng đều nói chuyện với Tùng Linh bằng thái độ rất cung kính, một điều ‘cậu’, hai điều ‘cậu’. Vậy mà chẳng hiểu làm thế nào Đăng Minh lại có thể bỏ qua chi tiết đó từ hôm qua tới giờ.
Nó quay qua liếc Tùng Linh, tự dưng càng nhìn càng thấy ghét. Nó hừ mũi: “Thiếu gia thì thiếu gia chứ! Người ta đi làm công ăn lương chứ có xin xỏ ân huệ gì của nó đâu mà nó hống hách thế? Cứ nhiều tiền là được quyền không coi ai ra gì chắc?”
“Sao cậu lại nói Linh như thế?” Hạnh tròn mắt: “Tớ thấy Linh là người vừa tốt bụng, lại còn thân thiện. Bọn mình tự dưng từ trên trời rơi xuống ăn dầm nằm dề ở Đe Lửa, cậu ấy vẫn rất nhiệt tình giúp đỡ. Đâu có tỏ vẻ kiêu căng coi thường người khác gì đâu?”
Đăng Minh nhìn Hạnh, tự hỏi con bé này rốt cuộc ngây thơ thật hay tỏ vẻ ngây thơ mà không nhận ra Tùng Linh sở dĩ tử tế với bọn nó là muốn ghi điểm với Hạnh. Giờ nghe nó ca ngợi Tùng Linh hết lời, Đăng Minh chỉ thấy máu nóng bốc lên tận đầu.
Cáu tiết mà không biết phải nói gì, nó chỉ còn cách cắm mặt đi trước.
***
Đi hết trục đường chính là tới quảng trường Ngọn Sáp.
Cái cây khổng lồ nhìn gần thật không khác gì một ngọn núi. Đen đặc như bóng đêm với những cánh tay vặn xoắn khủng khiếp vươn lên trời. Những cái rễ cao tới chục mét, uốn lượn xù xì như những con rắn khổng lồ. Toàn bộ thân cây được bao bọc trong một lớp gì đó màu đen nhớp nhúa chảy tràn như nhựa đường đã đông cứng. Thi thoảng lại nhìn thấy những mạch nhựa bị đốt cháy kết thành từng tảng lớn, tạo nên những hình thù vặn vẹo kì dị như hàng ngàn khuôn mặt đang méo mó gào thét. Đâu đó bên dưới lớp nhựa dày cả tấc, khói vẫn rỉ ra không ngừng, phảng phất mùi gỗ và nhựa cây cháy như mùi trầm hương trên chùa. Khói bảng lảng, quyện với làn sương mờ giăng đầy phố, cản bớt tầm nhìn.
Đăng Minh nuốt nước bọt. Nó không thể tưởng tượng nổi ‘cái gì’ đã có thể biến một thứ sự sống như Ngọn Sáp trở nên tang thương khủng khiếp như thế. Cái cây vẫn sống, hiên ngang đứng vững, cho dù những vết thương trên mình nó vẫn đang rỉ máu từng ngày.
Đăng Minh đã thế, Hạnh còn có vẻ xúc động hơn rất nhiều. Con bé đứng chết lặng nhìn Ngọn Sáp, hai bàn tay siết chặt cứ run lên không ngừng. Đôi mắt đen huyền lúc này dường như phản chiếu lại bóng đêm trước mặt, trở thành đen đặc, vừa đau thương, vừa sợ hãi.
“Hạnh…Hạnh… cậu có sao không thế?” Đăng Minh lo lắng khi gương mặt của Hạnh ngày càng trở nên nhợt nhạt.
“Tớ… tớ không sao,” Hạnh đáp, giọng đã lạc đi chút ít. “Mà thấy tang thương quá …”
Tùng Linh và A Xáng đi đằng trước không nhận ra sự xúc động của Đăng Minh và Hạnh, có lẽ cả hai đều đã quá quen với khung cảnh này từ khi sinh ra. Chúng nó rảo bước về phía một tòa nhà ba tầng với mái cong lát ngói ống cổ. Sau vài phút, Đăng Minh và Hạnh cũng nhanh chóng theo sau.
Phía trước cổng chính là một bệ đá hình trụ cao ngang người, bên trong có một chiếc đĩa lớn bằng gốm với hoa văn nổi tinh xảo màu xanh ngọc. Chiếc đĩa dường như đang nổi trên mặt nước hoặc một thứ chất lỏng kì lạ nửa như sương khói, nửa như mặt hồ, phản chiều bầu trời trong vắt.
Tùng Linh nhanh nhẹn tháo chiếc đèn bên hông nó ra, đặt vào chiếc đĩa. Một luồng lửa màu cam bùng lên trong thứ chất lỏng kì lạ, tạo thành một con chim lửa với cái đầu nhỏ nhắn nghiêng nghiêng trông như chim bồ câu. Phần lông trên cổ sẫm màu với những đốm sáng li ti như sao mọc giữa trời: chim cu gáy. Nó cất giọng nói, giọng nữ dịu dàng và hơi cao nhưng rất ngọt ngào: “Xin chào Hoàng Lý Tùng Linh. Bạn tới Ban hành chính hôm nay có việc gì vậy?”
“Tôi cần đưa vài người bạn mới đi đăng kí cư trú tạm thời,” Tùng Linh đáp.
“Hồ sơ của các bạn đã được chuyển tiếp lên tầng ba, Ban Nhập Cư. Vui lòng chờ tới khi lượt của bạn được gọi. Chúc các bạn một ngày vui vẻ!” Nói rồi ngọn lửa lại bùng lên, con chim biến mất. Gần như lập tức, cánh cửa đá phía sau trượt qua một bên rất nhẹ nhàng, cho phép tụi nó bước vào bên trong tòa nhà.
Kiến trúc bên trong tòa nhà hành chính gợi nhớ tới những bộ phim cổ trang pha giả tưởng nào đó. Những cột gỗ đen bóng cao ngất ngưởng, chạm trổ hết sức tinh vi, những tấm rèm tre lớn vẽ tranh phong cảnh, chim chóc, treo dưới từng hàng y môn dài nhiều lớp bằng nhiễu đen và vàng. Những dãy hành lang dài với dàn đèn trứng lơ lửng ánh sáng màu vàng đỏ ấm áp, sàn nhà trải thảm thêu hoa văn chữ Thọ màu đỏ đun. Chính giữa sảnh, một pho tượng đồng đen hình nhiều con vật kì dị trong các tư thế khác nhau như đang tỏa ra khắp phía, lóa lên trong ánh sáng mặt trời rọi thẳng xuống từ thiết kế ‘giếng trời’ xuyên lên mái nhà ở tầng Ba.
Người đi lại tấp nập, cũng giống như ngoài phố.
Tụi trẻ đi lên tầng Ba theo sự chỉ dẫn của con chim ngoài cổng. Ngồi đợi trong một sảnh khác, chờ tới lượt.
Đón tiếp ở quầy số Hai là một chị gái chừng hai lăm, hai sáu tuổi, tóc búi gọn gàng, mặc chiếc áo choàng màu vàng nâu cổ tròn đứng và biểu tượng cách điệu của Ngọn Sáp thêu trên ngực áo. Sở dĩ Đăng Minh đoán đó là Ngọn Sáp do từng nghe A Xáng giới thiệu, chứ hình cái cây tươi tốt với tán lá sum suê trước mặt nó thực sự khác một trời một vực với những cánh tay đen ngòm vặn xoắn vươn lên trời và những mạch nhựa hừng hực âm ỉ rỉ máu nó vừa nhìn thấy ngoài quảng trường.
“Chào các em,” giọng chị nhân viên nhẹ nhàng với ngữ điệu chuẩn mực của Lũng Mây. “Chị có thể giúp gì cho các em?”
“Các bạn này đã đến Thác Bạc sáng thứ năm vừa rồi,” Tùng Linh từ tốn trình bày. “Em đưa các bạn tới đăng kí cư trú.”
Chị nhân viên gật đầu, đưa cho hai đứa mẫu tờ đơn để khai lí lịch cá nhân. Trong lúc Đăng Minh ngồi cặm cụi viết thì Tùng Linh và A Xáng đưa Hạnh đi chụp ảnh trước.
“Thác Bạc, sáng ngày mười sáu tháng bảy, không giờ mười hai phút…” chị nhân viên lẩm nhẩm lúc nhập thông tin của Đăng Minh vào hệ thống. Rồi chị quay sang Đăng Minh, có chút ngạc nhiên: “Theo như hệ thống thì ‘Đường Đến’ của các em nối thẳng từ Hà Nội?”
“Dạ,” Đăng Minh gãi đầu, không ngờ ở cái xứ sở tâm linh này, hệ thống hành chính quản lí cũng tân tiến và chặt chẽ như thế. “Vâng bọn em là người Hà Nội.”
“Cả hai em đều là người Kinh Thành?” Chị nhân viên hỏi lại, như chưa tin lắm vào những gì mình đang nghe.
Hai chữ ‘Kinh Thành’ đầy xa lạ lọt vào tai khiến Đăng Minh đơ người ra mất vài giây. Rồi nhận ra việc người ở Lũng Mây sử dụng một từ cổ xưa như thế để gọi Hà Nội cũng chẳng có gì quá khó hiểu, nó mỉm cười gật đầu.
Chị nhân viên không nói gì nữa, chăm chú nhập thông tin. Đăng Minh thậm chí còn có cảm giác chị như cẩn trọng hơn so với khi nãy. Thì ra ở cái xứ sở kì lạ này, đứa con dân Thủ Đô như nó vẫn có những giá trị khác biệt, Đăng Minh tự nhủ. Nếu người Lũng Mây có thể hiểu được việc Đăng Minh là con nhà phố cổ Hà Nội chính gốc, là người Kinh Thành ‘đậm đặc nguyên chất không pha tạp’, chắc hẳn họ còn phải nể nó hơn nữa.
Đăng Minh bất giác ưỡn ngực phổng mũi.
Ba đứa còn lại hoàn toàn không biết nguyên nhân của sự kiêu căng bất thình lình của Đăng Minh, nên đứa nào cũng không khỏi ngạc nhiên khi thằng này dõng dạc một tiếng ‘Có’ rất đanh thép, lúc chị nhân viên hỏi có muốn ở lại Lũng Mây hay không. Nếu Hạnh không hớt hải ngăn lại, Đăng Minh có khi đã cầm bút kí xoẹt vào tờ giấy đăng kí tạm trú không một cái chớp mắt.
“Từ từ… từ từ đã,” Hạnh tá hỏa kéo Đăng Minh ra một góc. “Cậu làm gì thế? Không muốn về nhà nữa à?”
“Về nhà á,” Đăng Minh ngớ người. “Về nhà thì có gì hay?”
“Nhưng … nhưng chẳng lẽ… cậu… cậu định ở lại đây luôn?” Hạnh nhíu mày.
“Dĩ nhiên không phải,” Đăng Minh đáp, nó chưa nghĩ được xa đến thế. Nhưng cái xứ sở thần kì này thực sự không phải là thứ người ta có thể gặp được hàng ngày, Đăng Minh mím môi. Nó mới biết bí mật của Lũng Mây ngày hôm qua, vẫn còn quá nhiều thứ để tìm hiểu, để khám phá. Lẽ nào lại có thể dễ dàng bỏ qua? Nghĩ như thế, nó nhìn Hạnh: “Nhưng mà chẳng nhẽ cậu không muốn ở lại đây chơi thêm à? Để… để tìm hiểu thêm về Lũng Mây ấy?”
Hạnh không nói gì. Đăng Minh tiếp ngay: “Cậu nghĩ đi, giờ mới đầu tháng Tám, trường bọn mình còn chưa vào học. Bọn mình về thành phố bây giờ cũng không có gì làm. Trong khi ở đây…”
Đăng Minh bỏ dở câu nói của nó ở đó, nhưng cũng có thể nhận ra sự phân vân trong ánh mắt của Hạnh. Con bé đang không cưỡng lại được sức hút của Lũng Mây thần bí.
Đăng Minh chốt hạ bằng cách trấn an: “Cậu yên tâm, mình chỉ ở lại chơi tạm một thời gian ngắn thôi. Khi nào năm học chuẩn bị bắt đầu thì mình lại về Hà Nội. Thế là mình chẳng bỏ lỡ cái gì cả.”
Tới đây thì Hạnh đã có vẻ khuất phục hẳn. Con bé cắn môi suy nghĩ thêm một lúc, rồi trả lời: “Vậy cũng được. Nhưng ít nhất thì cũng phải báo với gia đình một tiếng chứ?”
Câu hỏi của Hạnh làm Đăng Minh sực nhớ ra rằng nó lạc lên đây đã bốn ngày mà chưa một lần liên lạc với bố mẹ. Giờ này hẳn bố mẹ nó cũng đang lồng lộn lên tìm kiếm nó như lúc bố mẹ Hạnh đi tìm con bé. Chắc chắn cả nhà đã báo công an, và ảnh nó giờ này đã ngập tràn trên các trang tìm người thân mất tích.
Đăng Minh le lưỡi. Quá nhiều chuyện xảy ra khiến cho nó quên hẳn mất cái chuyện quan trọng nhất.
Quay lại bàn phục vụ, Đăng Minh lập tức hỏi ngay: “Chị ơi, cho em hỏi… Bọn em vô tình tới đây nên không biết rõ… Lũng Mây rốt cuộc nằm ở vị trí nào của Việt Nam thế ạ?”
“Không sao em, có rất nhiều người có chung câu hỏi như vậy mà,” chị nhân viên mỉm cười thân thiện. “Địa danh của Mảnh Gương gần nhất với Lũng Mây là Thành phố Hà Giang.”
**********************
Hết Chương VI
[1] Tiếng H’mông: đấy, đó.





