Slide 1
previous arrow
next arrow

14091-quyen-01

Quyển 01: Chuyện xưa ở Nam Quan.

Chương 01.

Châu [1] Nam Quan, miền đất nổi tiếng về nghề ngư dân đánh bắt cá trên thuyền chài, nông dân gieo trồng các loại quả rừng đa dạng trên đất vườn màu mỡ, chăn nuôi ngựa vằn, cừu lông xám và voi răng mấu quý hiếm. Vùng trời rộng lớn của những ngôi làng già đã có tuổi đời đằng đẵng trăm năm, nằm về hướng Tây Bắc xa xôi, nơi cánh buồm tự do giữa biển khơi mênh mông, con đường thoai thoải trải đầy cát vàng vô tận trong tiếng sóng lớn rì rào vỗ vào bờ.

Câu chuyện của họ bắt đầu tại làng Đốc, huyện Ngọc Sơn. Ngôi làng xưa mà khi nhắc đến sẽ nhớ về cảnh đẹp yên bình, về người thợ rèn tài giỏi, người thợ đóng tàu điệu nghệ, về những thức quà món ăn dân dã, những thỏi mực đậm hương hoa nhài hay các loại giấy trắng thơm mùi gỗ hồng ngà.

Có người đã kể rằng: Ngôi làng ấy được đánh đồng như viên ngọc xanh quý giá, lại chẳng may bị thủy triều nhấn chìm, từ ấy bặt tăm.

…

“Vết rạn da sau lưng, quầng thâm đậm xung quanh mắt, viền tai nổi nhọt bọc, đằng sau vai trái có vết rắn cắn rất sâu. Nước da thì bệch bạc, xanh xao. Ngày đêm thao thức dẫn đến tinh thần ủ dột, sức khỏe sa sút trầm trọng.” Nhà Thiền sư sẽ sàng nói. “Ta khẳng định điều đó, không thể nào sai. Nó đeo bám cậu đã nhiều năm và gần như đã ăn mòn một nửa linh hồn nối lấy sự sống của cậu. Chẳng bao lâu nữa, sẽ là sự tàn phá mọi thứ theo thời gian.”

“Tôi biết thế nào cũng vậy mà! Từ cái ngày thị ta về lại làng này… cạnh nhà tôi…” Chàng trai suy sụp quỳ xuống đất, nước mắt tuôn lã chã.

Không ít người xung quanh xì xầm với nhau, họ nhìn cậu ta bằng ánh mắt dè dặt nỗi sợ sệt, vẻ khiếp đảm hiện rõ trên gương mặt mỗi người, không ai đủ can đảm tiến tới gần.

“Rồi chẳng bao lâu nữa, cậu ta sẽ như những tên đuôi trắng, da thịt trên người bị róc rỉa từng lớp, từng lớp, máu tươi và xương khô trở thành món hàng tươi của lũ vong xanh bên mồ hoang.”

Thiền sư lần chuỗi tràng hạt trên cổ tay, nhắm mắt khẽ buông tiếng thở dài.

Nén hương trên bàn thờ vụt tắt, nến đỏ cháy tàn, chàng trai ấy đã rời đi với vài người lạ mặt tìm đến. Bao ánh mắt bàng hoàng từ những người vây xem đồng loạt đổ về một hướng, đổ về bóng lưng gầy gò của cậu thanh niên đang độ tuổi rất trẻ. Tương lai tươi sáng từng làm bao kẻ ngưỡng mộ nay lại trở thành điều viển vông khó có thể chạm tới. Nỗi chạnh lòng lúc bấy giờ thật là khó diễn tả thành lời.

Vào khoảnh khắc cậu ta bước ra từ cổng đền, bình minh đã ló dạng sau miền trời xanh thẫm man mác vẻ ảm đạm. Cơn mưa giông đêm qua cuốn trôi vũng bùn tanh tưởi trước cửa đền, cuốn trôi tiếng oán thán vang tận trời xanh, gột rửa đầm máu tươi trên mảnh đất tăm tối.

Sau nhiều lần chen chúc về phía trước, Nam Thanh cũng an toàn thoát khỏi đám đông, không kịp suy tính, nàng vội vàng đuổi theo nhóm người lạ áo trắng đã đưa Hiền rời đền.

Hiền – Cậu học trò nổi tiếng là tài hoa hơn người tại làng Đốc. Niềm tự hào của người thầy già đáng kính. Tấm gương sáng được bao kẻ kính trọng. Ấy thế mà chỉ trong một ngày ngắn ngủi, mất trắng tất cả.

Ánh nắng hôm nay sao mà gắt mắt đến lạ thường, nàng bần thần sờ lên gò má nóng hổi, sống mũi đỏ hỏn cay cay, đầu lưỡi tê tái, rát rạt như ngậm phải gai. Một nỗi sợ hãi mang tên bất lực đang len lỏi vào tâm trí nàng. Bước chân vốn tưởng vững vàng bất chợt thoái lui, ngừng hẳn ở khoảng cách không mấy xa.

Những kẻ lạ mặt với bộ áo dài trắng toát nhói mắt, chiếc mũ rộng che mất gương mặt từng người, không thể phân biệt ai với ai, là nam hay nữ. Mỗi một bước chân của họ đều ẩn chứa sự nặng nề đè nén. Suốt chặng đường dài, Hiền bị họ áp giải trong cảnh tủi nhục, trước hàng nghìn ánh mắt dân làng. Chúng trói chặt tay chân Hiền bằng xiềng gông, bắt cậu không mảnh vải che thân nằm ngửa trên lưng lừa, không có tiếng la hét, không có âm thanh giãy giụa. Người nằm đó như cái xác không hồn, mặc cho thân thể mình bị giày xéo tàn nhẫn. Ai cũng nhìn thấy nhưng họ lại lựa chọn im lặng, vô vọng cúi đầu và lặng lẽ lùi về sau. Có vẻ như đó là sự cam chịu cho số phận bất hạnh, nhận định rằng đó là lời phán xét đúng đắn từ đấng thần linh vĩ đại mà họ quỳ xuống tôn sùng.

Bóng dáng những người áo trắng đưa Hiền đi dần trở nên mơ hồ, khuất xa sau chân đồi, thoáng chốc mất hút.

Cái rét ẩm đặc trưng của vùng phương Bắc xa xôi mơn man lên da thịt, đến mái tóc đen mướt căng dày. Cái vị mằn mặn quen thuộc lại thêm chút đăng đắng lạ miệng như thấm đậm vào ruột gan. Lần đầu tiên trong đời, nàng đón một mùa thu nhạt nhẽo và vô vị đến nhường này, không có vườn hoa sữa đậm ngát hương quê, không có tán lá vàng rợp trời mỗi khi trời chiều bảng lảng, không có chén nước vối xanh mát trong tay hay món cốm dừa quen thuộc bọc trong lớp lá sen còn ấm.

Người bơ vơ nơi vùng trời xa lạ, một nơi chỉ có sự lạc lõng, trống trải đang chờ đợi, và đôi lần li biệt với hai chữ duyên phận ngắn ngủi đã từng bất ngờ tìm đến, để rồi lại phải vội vã bặt tăm.

…

Ông chủ quán trọ Hồng Xuân là một cụ lão đã ngoài tám mươi. Cả ngày chỉ thích nằm khoèo người trên chõng tre nứa nhâm nhi chén rượu trắng, lúc nào cũng chếnh choáng say mèm, say đến đỏ gay mặt mày. Lão hay càm ràm với tụi người hầu trong nhà về những bộ quần áo uế vàng nặng mùi nước tiểu trên người, về cái quán tồi tàn nằm ngoài mé rừng già hoang vu, ế ẩm tới nỗi suốt nhiều tháng qua không có một vị khách mới nào ghé đến.

Mọi người thường gọi là ông Còi tóc tro, lão Còi da nến.

Lão ta có đôi mắt to lõm sâu, mái tóc hoa râm dính đầy vết tro than, bộ râu rậm dị hợm dài đến mắt cá chân và hàm răng già nhuộm đen yếu ớt. Ngoài một số thói quen thậm tệ như nghiện rượu, không thích tắm rửa, càm ràm chuyện không đâu thì lão còn khiến nhiều người đau đầu vì tật xấu lén lút nhìn trộm phụ nữ trong làng, nhất là những cô gái đang độ tuổi đôi mươi thường đi ngang qua cánh rừng già sau quán.

Nghe có vẻ không khác gì một ông già hư nết lắm tật. Một kẻ đáng khinh chỉ biết núp trong tối buông lời suồng sã. Ờ thì, lão ta vốn thế mà.

Mỗi lần gặp nhau, Nam Thanh sẽ giả vờ vô tình đạp đổ vò rượu bên chân lão. Lần nào như vậy, lão ta cũng dữ dội hét toáng, quơ quào cánh tay gầy gò về phía nàng. Song kết quả sau đó vẫn không khác mọi khi là bao. Lão già kiệt sức nằm nhoài người ra đất, mặc cho bọn hầu tớ bên cạnh ra sức nài nỉ đỡ dậy.

Vừa nhìn thấy bóng người quen thuộc bước vào quán, lão hốt hoảng giấu nhẹm vò rượu trong tay theo bản năng. Như thể vẫn chưa an tâm, lão dùng tấm chăn nhàu nát bọc thật kĩ vò rượu rồi ôm chặt vào lòng. Nam Thanh thản nhiên đi vào trong, chẳng buồn ngoái đầu. Cũng vì tâm trạng rối bời, nàng không còn sức lực để ý đến chuyện khác, bèn giả vờ chẳng thấy lão ta rón rén theo sau, nhìn nàng chằm chặp với đôi mắt buồn tẻ mơ màng.

Bảng hiệu Hồng Xuân treo ngoài kia, dường như chẳng ăn nhập hoặc liên quan đến cái quán vừa nghèo nàn vừa xập xệ này. Và thật ra, cũng chẳng phải vì xung quanh quá đỗi hoang sơ mới dẫn đến không có một bóng khách nào ghé đến. Bởi vốn dĩ, thứ họ ngần ngại là về vẻ ngoài tồi tàn vượt sức tưởng tượng. Đến cả việc chỉ bước vào, nhẹ nhàng mở cánh cửa trong số những căn phòng trên căn gác trọ, họ cũng không đủ can đảm.

Hành lang tối tăm không ngọn đèn soi sáng. Tấm ván mục nát dưới chân phát ra tiếng cọt kẹt như sắp nứt toác thành từng mảnh nhỏ khi ai đó vô ý đạp lên. Vụn gỗ bắt đầu rơi ra, vương đầy khắp nơi. Có những lần, ẩn dưới mấy tấm gỗ ấy là vài cây kim bạc sắc nhọn, mảnh vải trắng úa vàng, nhánh tóc đen dài, xác của những con chuột đồng bị lửa thiêu. Trong căn phòng nhỏ hẹp, thứ duy nhất còn vẹn nguyên là chiếc giường đóng bằng tre, với một tấm chiếu cũ phủ đầy bụi, không hơn. Sự đơn sơ quá đỗi tàn hoang của nơi đây làm bao người phải trố mắt nhìn trong ngỡ ngàng. Một cái gối nằm, tấm chăn mỏng, chiếc ghế gỗ, chén nước ấm, bỗng chốc trở thành thứ vô cùng xa xỉ.

Nửa đêm giật mình, choàng tỉnh vì thứ âm thanh kì lạ vọng lên từ dưới nhà sẽ không còn là câu chuyện mới mẻ với những vị khách quen. Còn với nhóm khách ở trọ lần đầu thì khác hẳn hoàn toàn. Họ sẽ bàng hoàng lúc thấy cảnh lão già Còi nhảy nhót quanh ánh lửa tàn, ngân nga giai điệu khó hiểu, hoặc cùng bọn hầu tớ có vẻ ngoài dị hợm không kém lão chơi đủ loại trò lạ lùng. Như, ném gạch vỡ lên vách tường, đục khoét từng lỗ nhỏ trên ván cửa, đập vỡ chén bát rồi mài nhẵn thành bột mịn, trộn chung với hũ gạo nếp dưới bếp. Thậm chí lão còn đào đất tìm tổ giun con, hầm nhừ, bón từng miếng cho mèo hoang ăn. Kể cả việc bắt sống gà rừng nhốt trong nhà, hàng ngày cầm theo cọc gỗ, đuổi theo chúng từ phía sau một cách dã man, tàn bạo.

Nam Thanh đã ở lại quán trọ này trong suốt ba tháng. Với nàng, đây là sự dũng cảm rất lớn lao. May mắn cho đến hiện tại, trái tim nàng vẫn khỏe mạnh, không gặp phải tình cảnh “muôn vàn éo la”, “suýt ngất mất”, như những vị khách khác, khi lỡ thấy đầu mèo đẫm máu lăn lóc dưới chân giường vào mỗi đêm mưa lớn.

Xách trên tay giỏ đồ lỉnh kỉnh, Sa Vũ hậm hực đi ra từ gian bếp sau nhà. Hai anh em Sa Bình và Sa Minh cúi gằm mặt, lủi thủi bước theo sau. Gã vừa thấy người đã về, lập tức chạy đến với thái độ đầy sốt sắng: “Cậu Thanh về rồi, mừng quá! Không có cậu tụi này chẳng biết xử lí sao mớ đồ trong bếp.”

“Tôi đã ghé đến nhiều chỗ trong chợ nhưng chỉ mua được nhiêu đây thôi, phải năn nỉ rất lâu người ta mới chịu bán đấy!” Sa Minh đặt lên bàn bốn quả trứng gà con, rầu rĩ than thở.

“Đây là thành quả đi chợ của ba người đó sao?” Ngồi xếp bằng trên sập gỗ, nàng ngờ ngợ hỏi họ.

Sa Bình vỗ lên vai em trai, lắc đầu bảo: “Nếu chỉ mua vài quả trứng gà đã vội đi về, ba anh em chúng tôi còn mặt mũi nào gặp ai. Ông anh này của tôi hét ầm lên một tiếng, mấy người kia đã sợ khiếp vía, chẳng ai dám nghênh mặt khinh thường. Tuy tôi không bằng anh ấy về dáng vóc to con hay sức lực hơn người nhưng chí ít vẫn có mánh khóe khôn khéo để ứng đối. Cậu Thanh cứ khéo lo.”

“Tôi đã chán nản với việc lê lết tấm thân già này ở khắp nẻo đường cái chợ tồi tàn đó rồi. Mỗi lần nhìn thấy anh em chúng tôi là ai nấy lao vào chửi bới đánh đập. Có đôi lúc dáng vẻ của họ lại hoảng loạn, sợ sệt, cứ như thể gặp phải quân giặc giã tàn ác.” Lồng ngực phập phồng, cơn giận của Sa Vũ như sắp nứt toác tràn ra khóe mắt đỏ tươi.

Anh em họ đã bất mãn với dân làng từ lâu, dù có kể mãi cũng không đếm hết những lần khốn đốn họ phải cắn chặt răng nhẫn nhịn từng ấy lời chửi rủa, mạt sát nặng nề.

Sa Bình ngồi vuốt ve chén nước với vẻ đăm chiêu, khi nhớ lại lời đồn thổi kì lạ ở làng Đốc: “Chỉ cần là người lạ, dù là ai cũng phải nhận lấy sự xua đuổi quyết liệt từ dân làng. Trong trường hợp nếu vẫn muốn ở lại đây, như chúng ta chẳng hạn, phải chấp nhận bị đánh, bị chửi mỗi ngày.”

“Họ nhiệt tình đối đãi với người cùng làng, chẳng bù những lần khi thấy bọn tôi… treo giá cao gấp bốn lần, đưa bọn tôi những món hàng dỏm nhất, xấu nhất, héo giập nhất. Có mấy kẻ còn quá quắt hơn, hoạnh họe xua đuổi dù tôi chưa hề làm gì quá đáng. Nói trắng ra là cố ý bài xích rồi dọa dẫm đủ điều.” Nhớ lại chuyện cũ khiến thái độ Sa Minh trở nên gắt gỏng.

“Nếu không vì việc quan trọng, bọn này còn lâu mới ở lại đây chịu khổ. Cái làng nát rách rưới, hạng bần cùng đã bằng được ai mà cứ thích ra vẻ hống hách mỉa mai kẻ khác!” Cơn giận trong người vẫn chưa nguôi, Sa Vũ cố gắng kìm nén. “Còn cậu Thanh thì sao? Sáng nay, cậu là người rời quán trọ sớm nhất. Đi lâu như vậy mới về, chắc hẳn đã dò hỏi không ít tin tức mới có ích nhỉ?”

“Tôi đến đền Giác Hoàng, gặp Thiền sư Lê Thư.” Nàng sực tỉnh, lảng tránh ánh mắt dò xét từ ba người họ. “Đứng ở đó rất lâu, rất lâu, nghe ông ấy kể đủ thứ chuyện lạ kì trên đời. Đáng tiếc, tôi chẳng thể tìm thấy tin tức gì mới cho các anh cả.”

Sa Vũ, Sa Bình, cuối cùng là Sa Minh, người em trai út. Khác với người anh nóng nảy bộp chộp và cậu em có tính cách khúm núm, Sa Bình không những nhanh nhạy về mặt quan sát mà còn tinh tế ở mỗi hành động lời nói. Bằng sự hiểu biết của mình về Nam Thanh, cậu ta đã có đáp án.

“Nếu tôi đoán không sai, cậu Thanh đến miếu làng để xem vị sư nọ triển tài, tìm vong xanh nuốt hồn.”

Nàng buồn bã cúi đầu, dù không trực tiếp trả lời nhưng hàm ý thể hiện thì không khác nào đã ngầm thừa nhận.

Dường như Sa Bình đã hiểu ra điều gì đó, bèn bóp trán thở dài: “Sáng hôm nay, ai trong chợ cũng xôn xao hốt hoảng vì tin này. Dẫu đã nghe họ bàn tán không ít, cơ mà tôi vẫn mơ hồ nhiều thứ lắm.”

“Cái gì vong, cái gì xanh cơ? Lẽ nào… lại là chuyện ma quỷ lộng hành mà người làng này vẫn lan truyền đó ư? Nếu thế…”

“Không phải đâu anh ạ! Sự việc hôm nay còn phức tạp hơn nhiều, không đơn giản chỉ là chuyện đồn đãi thôi đâu.” Sa Bình ngắt ngang lời anh trai, chếch mắt về phía Nam Thanh, rồi khom lưng chấp lại hai tay. “Vong xanh bên mồ hoang, ắt hẳn cậu Thanh đã nghe qua rồi. Thứ cho tôi kẻ đầu óc chậm chạp, không thể hiểu rõ thế nào là vong xanh nuốt chửng hồn người, thế nào là mồ hoang cỏ đỏ trải dọc bờ sông Tàn. Nếu cậu có biết chi thêm, tôi xin được tận tình lắng nghe.”

Ba anh em họ nhìn nàng chăm chú. Cái nhìn chòng chọc đáo để đến lạ. Họ tin chắc rằng nàng biết điều gì đó. Là sự khẳng định cần lời giải đáp chứ không phải sự nghi vấn cần câu trả lời. Sau một tiếng thở dài nặng nề, Nam Thanh đành gượng gạo gật đầu, bắt đầu câu chuyện xưa mà ai đã nghe xong đều không thể nào tin tưởng.

“Trần đời có một nơi gọi là sông Tàn, trải dài dưới chân thung lũng dày đặc sương mù và có mặt khắp nơi trên thế gian. Dòng nước trong vắt ngọt vị thanh mát, vương vất trong không khí hương gỗ thơm, những bia đá bạc cổ xưa chôn dưới đáy sông đã trăm năm, những đóa sen trắng nở rộ mỗi khi vào hạ. Đêm đến, nước sông ngả sang màu xanh biếc lấp lánh như ngọc, phản chiếu ánh sáng bạc trong trẻo dịu dàng.”

“Thật có một nơi kì diệu như vậy?”

“Tôi chỉ tường thuật lại những gì mình đã nghe, thật hư ra sao thì không dám phỏng đoán.”

Không khó để nhận ra vẻ ngờ vực rất sâu trong mắt và lời nói của Sa Vũ. Nghĩ cũng phải, ai lại muốn tin vào mấy chuyện mê tín như quỷ thần có thật. Nam Thanh tần ngần một hồi lâu. Sa Bình hối thúc nàng kể tiếp. Đôi mắt cậu ta bừng sáng vẻ thích thú.

“Sông Tàn thu giữ những linh hồn vất vưởng tại trần gian, những linh hồn còn mang nặng nỗi thù hằn sâu đậm, sự oán thán chấp nhất trước lúc tạ thế. Cái chết đau đớn, dằn vặt tâm trí và mài mòn cả thể xác. Nếu không thể gột rửa cặn bẩn nhơ nhuốc trong thanh tâm làm sao tìm thấy miền trời bình yên tự tại, đi qua vòng luân hồi của một kiếp người. Bởi lẽ mới trở thành vong linh lang thang khắp nơi, đánh đổi năm tháng quý giá chỉ để tìm kiếm sự thỏa mãn vô tri. Người ta gọi đó là oan hồn mắt xanh. Oan hồn nơi mồ hoang. Chiếc bóng núp mình trong vực sâu thăm thẳm. Tha hóa lương tri, thiện lương của lòng người. Xiềng xích lạnh lẽo nơi ngục tù, giam cầm và đọa đày biết bao mảnh hồn cô độc. Vong xanh nuốt chửng hồn người là vậy đấy.”

Ngước mắt, nhận lấy chén nước từ Sa Bình, nàng nhấp nhẹ một ngụm rồi nhoẻn miệng cười khẽ: “Người kể, cạnh mé sông Tàn có khu mộ bỏ hoang đắp bằng đá trắng đã lâu đời. Họ bảo, đó là ngôi mộ đổ nát không tên, nơi chôn cất bao cái xác phơi thây không còn vẹn nguyên hình hài, nơi mà hồn người tách khỏi thân xác héo già của chốn trần tục, bước vào cõi Ngạ quỷ [2] chịu đựng đói khổ. Nỗi thù hận sẽ hóa thành ánh lửa trời đốt cháy đôi mắt, lí trí, sự luyến tiếc cuối cùng còn sót lại. Giây phút từng ngọn cỏ dại bên bờ sông Tàn nhuốm đẫm sắc tươi của máu cũng là lúc linh hồn chìm sâu trong vũng bùn ngập ngụa tội ác, kết cục đã định không thể vãn hồi.”

“Chuyện hoang đường đến vậy mà vẫn có người tin sao?” Cảm giác rợn người chảy dọc khắp thân thể khiến Sa Vũ run rẩy đến xanh mặt, lạc cả giọng.

“Nếu là nơi khác có nước bị các cụ đánh té tát vì cái tội nói năng hàm hồ, dựng chuyện lừa lọc mấy kẻ dại dột tin người. Còn ở làng Đốc này, không tin cũng phải tin, dù chuyện lạ đời đến đâu cũng trở thành sự tầm thường, thành lẽ dĩ nhiên mà bất cứ ai trong số họ cũng lấy làm quen thuộc.”

Lời nói của Sa Bình tuy có gắt gỏng, song lại không sai. Nếu so sánh từng chuyện man rợ mà dân làng Đốc vẫn thường rỉ tai nhau suốt khi còn nán lại ở những phiên chợ diễn ra thường ngày thì quả thật, câu chuyện Nam Thanh vừa kể vẫn chưa thấm tháp vào đâu nỗi kinh hoàng khiến bao kẻ phải khiếp đảm. Chí ít là với Sa Bình, cậu ta chỉ thấy tò mò vì những gì mình được nghe từ Nam Thanh.

Câu chuyện mơ hồ ấy đã gợi nên trong cậu sự hứng thú muốn được hiểu cặn kẽ, muốn được khám phá tận ngóc ngách bí mật. Hoặc có lẽ, vì vẻ nghiêm túc hiếm thấy trên gương mặt non nớt người trước mắt, vì sâu thẳm trong mắt người như thể trăn trở bao điều phức tạp, đan xen với những cảm xúc khác lạ. Cũng vì lẽ ấy, đã trở thành nguyên do bắt cậu giục giã đi tìm, đi tìm đáp án chính xác cho câu đố hóc búa.

Thừa biết thằng em trai có tật xấu hay nói chuyện úp mở nửa vời nên Sa Vũ không vội truy hỏi. Gã uống cạn chén nước, sai Sa Minh đi đun bình trà mới, người mà nãy giờ vẫn ngồi im lặng trên sập, cơ thể run lẩy bẩy, vẻ khiếp đảm trên gương mặt tái ngắt không sao vơi bớt. Ranh con này sợ nhất là chuyện rùng rợn về ma quỷ. Lúc không thể kìm nén cảm xúc nó sẽ bải hải [2] hét toáng lên. Sa Vũ cũng biết rõ điều đó bèn tìm cớ cho cậu tạm tránh mặt.

Bấy giờ, chỉ còn lại ba người ngồi trên sập gỗ, nhấm nháp quả me xanh có vị chua đậm hơi chát đựng trong túi vải. Đôi bên thẳng thắn nhìn nhau, không cần phải dè chừng nữa.

“Ý của mày là gì? Nói rõ xem nào.”

“Anh đừng gấp, từ từ rồi em sẽ nói.”

“Sáu năm trước, tại làng Đốc từng xảy ra vụ án rúng động khắp huyện Ngọc Sơn. Một người đàn bà trung niên được chẩn đoán mắc phải căn bệnh kì lạ. Căn bệnh chết người bắt đầu từ những triệu chứng không thể lường trước. Toàn thân ửng đỏ, ngứa ngáy, nhọt bọc sưng to sau viền tai, vết rạn da tím sẫm nổi đầy trên lưng, quầng thâm đen quanh mắt ngày càng đậm. Khoảng thời gian sau, da dẻ của thị ta bắt đầu trở nên xanh xao, vàng vọt, trên vai trái xuất hiện miệng vết thương sâu bị rắn cắn, nọc độc đã thấm vào máu thịt. Và rồi, thị ta dần mất đi thị giác, không thể nghe, không thể nói chuyện, không thể cảm nhận mùi vị, đến cả việc thở sống tiếp cũng phải dùng miệng để duy trì. Đây chỉ mới là khởi đầu, khởi đầu cho tháng ngày sống trong địa ngục của người đàn bà xấu số. Căn bệnh quái ác ấy bỗng chốc hóa thành loài thú dữ, gặm nhấm, ăn sống từng bộ phận trên cơ thể thị, bắt đầu từ ngón tay, bàn tay, mái tóc, chân răng, tròng mắt, mũi, tai và lưỡi. Mặc dù không cướp đi mạng sống của thị, song lại bắt thị phải chịu cảnh giày vò trong khốn khổ, cho đến khi hơi thở thoi thóp, cho đến khi sức lực cạn kiệt.”

Hai tay ôm đầu, Sa Vũ bàng hoàng. Bóc lớp vỏ cứng bên ngoài me xanh, Sa Bình nhăn mặt khi lỡ cắn phải quả chua nhất. Cậu ta khoan thai nói cười, không hề sợ hãi trước câu chuyện ghê rợn mà mình vừa kể. Có vẻ dù trong hoàn cảnh nào, chàng thiếu niên ấy đều giữ vững sự bình tĩnh trên gương mặt hiền hòa và nụ cười từ tốn luôn thường trực trên môi.

“Không ít người cho rằng đó là một vụ án ám hại đã được dàn xếp chiêu trò và dựng nên màn kịch mê tín nhằm che mắt thiên hạ. Hung thủ có thể là Thầy pháp [3] hoặc kẻ làm ngải phù phép từng sinh sống tại làng. Thế nhưng, kết quả điều tra của Xá quan [4] cho thấy, khả năng có người đứng sau chủ mưu là rất thấp. Sau đó, sự việc nhanh chóng kết thúc trong vòng ba tháng. Rốt cuộc là bệnh hại người hay người hại người, đến nay vẫn còn là câu hỏi chưa có giải đáp. Mà suy nghĩ của người với người có bao giờ không phức tạp, không rối rắm trăm bề đâu anh? Không tin chuyện quỷ thần có thật vì lòng dạ họ thâm sâu chỉ chất chứa toàn điều nghi kị. Đến khi tin rồi thì mỗi ngày vẫn phải sống trong thấp thỏm lo âu.”

“Tính đến hiện tại đã có hơn mười người chết vì căn bệnh kì lạ này rồi. À, nếu theo cách nói của một số người trong làng thì đấy là bị vong xanh nuốt hồn chứ chẳng phải bệnh tật gì gây nên. Họ đã khẳng định vậy, em chỉ đành gật bừa vâng theo thôi.” Cậu ta xòe ngón tay nhẩm đếm.

“Khoan, vậy là vong hồn lộng hành hại người thiệt mạng hay do bệnh lạ không thuốc chữa mới làm chết người vô số?”

Sa Vũ trố mắt, đầu óc vẫn quay cuồng vì mơ hồ. Trong khi đó, Nam Thanh đang luồn hai sợi dây buộc lại túi vải, vẻ mặt nàng tự tin cứ như đã nắm chắc đáp án trong tay.

“Nói thật với hai anh, tôi không tin mấy chuyện vớ vẩn này đâu! Tôi đã từng nghe các Nhà sư có đức độ cao cả thuyết giảng về Phật học, về Đạo lí Luân hồi đất trời, về Luật nhân quả chúng sinh. Vong hồn đến từ địa ngục lạnh lẽo chỉ khiến bao kẻ mang nặng tội lỗi phải hoảng thét trong cơn say điên loạn, làm sao dọa giết được ai?”

Chân răng ê ẩm đầu lưỡi còn chan chát vị chua, nàng hít hà mấy hơi, đoạn lại cong môi, ý cười trong trẻo hiện rõ trên đuôi mày: “Hồn trời, người trần đều có mệnh số khác biệt. Vong linh cũng như con người, có phẩm cách, danh dự, phân rõ thiện ác. Đừng có gặp chuyện gì kì lạ cũng đổ tại họ. Vong linh chứ có phải quỷ yêu đâu mà thích hại người? Với lại, họ đâu rảnh rỗi suốt ngày đeo bám những kẻ chẳng hề liên quan tới mình.”

Cuộc nói chuyện giữa đôi bên nhanh chóng kết thúc. Tan rã trong sự thơ thẩn, ngớ ngẩn đầy khó hiểu.

Hai anh em họ xách theo gói đồ lỉnh kỉnh đi lên tầng trệt quán trọ. Họ bước lên bậc thang cao nhất, xáp lại gần nói khe khẽ bên tai rồi lại len lén nhìn xuống bên dưới. Thoáng chốc, Nam Thanh trở thành đích ngắm để họ tìm tòi, nghiền ngẫm, dò xét.

Mắt thấy thời gian không còn sớm, Nam Thanh bèn xắn tay áo đi vào bếp. Cũng không biết từ lúc nào, nàng quán xuyến tất cả việc bếp núc hàng ngày cho mọi người trong quán. Nghĩ cũng lạ, ông chủ như kẻ dại đã ngấm bệnh điên, bọn người hầu cũng không khá hơn là mấy. Còn về ba anh em người vùng núi kia, cho gì ăn đó, cơm khô rau dại vẫn khen lấy khen để. Nói chung dễ nuôi lắm. Chỉ rõ khổ một điều, vạm vỡ sức bền mà tay chân cứ vụng về như nhau.

Nàng vừa mới nghĩ đến thì lão ta đã xuất hiện, vẫn là cái cách cũ rích bất thình lình dọa người khác xanh mặt.

“Bữa nay mày tính nấu món gì? Tao ngửi thấy mùi thịt nướng thơm lừng, ngửi thấy mùi cháo sườn hạt sen, với cả mùi thơm quýt tươi.” Lão nằm sõng soài trên đất, miệng ngậm nhánh cỏ khô, hai mắt láo liên đầy gian trá.

“Tôi không nấu mấy món đó, cũng chẳng có quýt tươi cho ông, đủ cơm ăn là may mắn lắm rồi, ông còn đòi hỏi gì nữa?”

Lão ngồi bật dậy, cằn nhằn: “Mày dở thật đấy! Sao không chịu nấu ngon như vợ tao. Cơm mềm độn khoai non, cá ngọt rau tươi, thịt mỡ đầy đủ, rượu rồi cả trà.”

“Dễ thôi mà, ông cứ bảo vợ mình nấu cho ông ăn đi!”

“Ôi, vợ tao chết rồi, chẳng biết phải đi đâu mới tìm được mụ…” Lão ta bặm chặt môi, cau mày, điệu bộ bực tức.

Nàng ngây người nhìn lão, bất lực phải nhỏ nhẹ khuyên: “Người đã khuất, ông còn làm họ lo lắng không yên. Tay nghề của tôi không thể nào giỏi như vợ ông được đâu. Cơm canh đạm bạc, nấu sao thì ông ăn thế nhé?”

“Thôi vậy. Tao chẳng thể trông chờ vào thứ vô dụng như mày.” Lão lẩm bẩm mấy câu mắng nhiếc trong miệng, chốc lát lại nằm thượt ra đất, ngước gương mặt phờ phạc nhìn lên trần nhà. “Suýt nữa quên mất, tao thấy hết rồi, biết hết rồi, mày đừng hòng qua mặt ai.”

“Ông thấy cái gì? Biết cái gì nào?”

“Tao thấy ánh mắt thấm đẫm nét tình của người đàn bà. Tao thấy thân xác còn rực rỡ sắc xuân của người đàn bà. Tao cũng biết rõ lòng người là bần cùng, là tham lam, sao có thể thoát khỏi cơn ảo mộng phù du.”

“Hay thật! Tôi cũng như ông, nhìn thấy, biết rõ những điều không ai ngờ đến.” Nam Thanh bật cười, đưa lão quả me chín ngọt duy nhất trong chiếc túi nhỏ. “Tôi thấy sự khốn khổ năm tháng dài đã đọa đày linh hồn của kẻ si tình. Tôi thấy nụ cười điên dại, bước chân lầm lỡ của kẻ si tình. Tôi cũng biết rõ lòng người là trắng, là đen, nào có thể dễ dàng nhìn thấu.”

Chú thích:

[1] Châu – Khu vực hành chính. Ngày xưa chia đất ra từng khu, lấy núi sông làm mốc, gọi là “châu”. Tương đương với cả nước hoặc với một tỉnh. (Nguồn tham khảo: Thivien.net)

[2] Bải hải – Tiếng kêu la. (Phương ngữ – Khẩu ngữ)

[3] Cõi Ngạ quỷ – Đứng hàng thứ 5 trong sáu nẻo luân hồi: Trời, người, A tu la, Súc sanh, Ngạ quỷ, Địa ngục. Đây là cõi giới của những chúng sanh xấu xí, thường ở chỗ âm u, đói khát và ăn những đồ bất tịnh. (Nguồn tham khảo: Kinhnghiemhocphat.com)

[4] Thầy pháp – Người chuyên trị bịnh tà hoặc ếm-đối ma quỷ bằng bùa-chú phép-tắc, hoặc trục đồng xây cốt. (Nguồn tham khảo: Từ điển – Lê Văn Đức)

[5] Xá quan – Nơi quản lí những việc lớn nhỏ ở các trấn, làng trực thuộc huyện. (Hư cấu)