Slide 1
previous arrow
next arrow

14092-quyen-01

Quyển 01: Chuyện xưa ở Nam Quan.

Chương 02.

Hoàng hôn của những ngày chiều yên ả sẽ trông như thế nào? Ắt hẳn rất đẹp. Nét đẹp rất đỗi dịu dàng.

Ngày hôm ấy, khung cảnh thanh bình man mác một vẻ u buồn tịch mịch, ngọn thác hùng vĩ trên vách đá cao ngất trút xuống con suối chảy xiết, cánh đồng ngô trải dài ngút ngàn dưới chân đồi làng. Phía sau rặng núi chập chùng là ráng mây sẫm hồng phủ nắng vàng, uốn lượn như cơn sóng nhấp nhô và điểm xuyết rực rỡ trên bầu trời.

Ngoài kia, đầu ngõ thưa thớt người, ánh chiều tà cuối ngày thấm nhẹ sắc đỏ lựng mềm mại tựa quả hồng chín ngọt. Trong đây, sương đọng trê lá mướp xanh mởn, làn khói đặc tỏa hương nghi ngút khắp bếp, có cơm nóng cá tươi, trà ấm rượu thơm.

Nam Thanh nhấc ấm nước sôi đặt xuống bàn, cho thêm vài lát gừng non, vỏ chanh, ít đường nâu đã đun chín, dùng đũa khuấy đều, ủ dưới lớp rơm rạ còn nóng. Rồi nàng lấy cái chén sành từ trong tủ gỗ, rót đầy nước trà mới châm, kề gần môi nhấp nhẹ một ngụm.

Cau lại lông mày, từng đợt hít sâu, thở nhẹ, nàng lầu bầu mấy chữ trong miệng. Đắng, đắng lắm. Cảm giác tê dại vờn lấy đầu lưỡi, xuôi theo cuống họng lan rộng vào tim phổi. Thế mà nàng lại mê mẩn, lỡ say mất cái vị trong trẻo của nước sương sớm mai, cái vị đắng ngắt của lá trà tươi trong cốt tủy thanh đạm ấy.

Kẻ giỏi về thưởng trà ắt sẽ hiểu rõ một điều. Đắng, ngọt, nhạt, là chén trà của một đời người. Lạnh, nguội, tàn là chén trà của năm tháng mai này.

“Thầy dặn mình hãy thưởng trà ngon như cái cách ta ngoạn cảnh sông nước hữu tình. Cơ mà cảnh đẹp đâu chẳng thấy, chỉ thấy nhà cửa đổ nát, đất vườn tàn hoang, người điên kẻ dại. Thầy của ta nói quả không sai, tĩnh tọa như người đã dứt đứt duyên trần, như kẻ đã thấu triệt tường tận chuyện đời thế gian, nào có dễ dàng như thế!”

Không hiểu sao lại nghĩ đến mấy chuyện vu vơ. Nàng bần thần bật cười.

Tiếng bước chân dồn dập vọng lại từ hành lang, bóng người cao lớn sau tấm rèm nhìn vào trong, hỏi: “Cậu Thanh đang uống gì thế?”

“Tôi mới châm trà xong, anh muốn uống một chén không?”

“Trà cậu nấu còn đắng hơn thuốc, hôm trước cậu cho một chén uống thử, từ đó tôi tởn đến già [1], thề là không dám động tới lần nào nữa.” Sa Vũ vén rèm bước vào, nôn nóng ngó nghiêng.

“Thuốc đắng đả tật [2]. Vị đắng càng đậm mới là trà ngon.” Nhìn theo ánh mắt gã, nàng hiểu ý. “Cơm nước đã làm xong rồi, nếu anh đói cứ ăn trước đi ạ.”

Gã chỉ chờ mỗi câu này thôi. Vội vàng đi tới đơm đầy bát cơm trắng nóng hổi, ăn chung với mướp luộc, cá kho, mắm trứng chưng. Ngồi xổm trên cái sập thấp trong bếp, gã lùa vào miệng từng miếng cơm dẻo mềm, từng miếng mướp non ngọt nước. Mùi thơm lựng của món cá kho, vị mằn mặn hơi cay của mắm trứng chưng vẫn còn thấm lại trong vị giác.

Cơn đói cồn cào được lấp đầy. Người tấm tắc khen ngợi không ngớt lời.

Đôi tay Nam Thanh vừa trắng trẻo vừa mềm mại, móng tay sạch sẽ được cắt ngắn gọn gàng, các đầu ngón tay hồng hào, tươi tắn. Đôi bàn tay một người không chỉ đẹp về hình thức vẻ ngoài mà còn đẹp về sự tháo vát đảm đương tận tụy, tựa như người thợ bếp thực thụ đa tài, rành rọt với nghề, với đời. Đôi tay khéo léo ấy thoăn thoắt bóc vỏ trứng. Mỗi một quả đã bóc vỏ trong chiếc đĩa sứ hoa trên bàn đều tròn xoe trắng nuột, tỉ mẩn và đẹp mắt vô cùng.

Dẫu không phải lần đầu trông thấy Nam Thanh xuống bếp, Sa Vũ vẫn lấy làm ngỡ ngàng trước sự tinh tường khéo léo từng chút một trong việc nấu nướng đầy nhọc nhằn mà Nam Thanh đang làm. Chẳng bù cho ba anh em họ, cùng là trai tráng như nhau lại mù tịt về chuyện bếp núc nhà cửa, động vào cái gì cũng đổ bể tan tành.

“Cậu giỏi thật, đâu có thua kém gì tụi đàn bà trong làng, bây giờ hiếm đứa con trai nào quen việc bếp núc lắm. Bởi lẽ, mấy chuyện nấu nướng giặt giũ này nọ chỉ có phụ nữ là biết cách quán xuyến thôi.”

“Anh nói chuyện cứ lạ lùng, đâu phải chỉ có phụ nữ lớn tuổi hay thiếu nữ đôi mươi mới quán xuyến việc cơm nước thường ngày. Mấy anh đàn ông cao lớn, lẽ nào có mỗi chuyện phụ giúp các chị em trong nhà cũng phải đưa đẩy hết người này đến kẻ nọ?”

“Nếu giỏi như cậu Thanh ai nói gì đâu, nhưng với những kẻ có tật xấu vụng về, như bọn tôi đây này, thà rằng không làm còn hơn. Với lại, nói thế nào vẫn là đám đàn bà đầy rẫy kinh nghiệm ngoài kia làm tốt hơn đấy chứ. Tay chân cô nào cũng nuột nà dẻo dai, cánh đàn ông thô lỗ như chúng tôi sao dám so bì.” Gã khoan khoái cười to, nói năng chẳng chịu kiêng dè.

“Tôi không thích giọng điệu bỡn cợt người khác của anh Vũ, dù vô tình hay cố ý, nghe chói tai lắm.” Bẻ đôi cành cây khô chụm vào đáy bếp, nàng cố ý nói đùa trông sao như thật. “Khôn lỏi thì đừng dại chọc tôi, cháo heo cỏ dại, cơm thiu xương xẩu, anh tha hồ lựa chọn.”

Sa Vũ ngượng nghịu gãi đầu, cười trừ.

“Tôi chỉ đùa thôi, cậu Thanh đừng để bụng.” Gã nhanh nhảu lảng sang chuyện khác. “Thằng Bình vừa bảo với tôi, hôm nay cậu định vào làng một chuyến để tìm ai đó…”

“Tôi định đi tìm Hiền.”

Nàng gật đầu thừa nhận không chút do dự. Vốn dĩ không có ý định giấu giếm ai về quyết định này nên cũng chẳng cần phải đắn đo.

“Nom cái tướng nhỏ con vậy mà lại gan lì quá thể!” Gã lùa vội miếng cơm cuối cùng vào miệng, lời khen tặng vừa thật tâm vừa có vẻ giễu cợt.

Mấy ngày trước, Nam Thanh có kể về Hiền, một người bạn cũ nàng quen biết đã nhiều năm. Sa Vũ chưa gặp cái người tên Hiền ấy bao giờ, nhưng gã đã được nghe và thấy qua dáng vẻ giận dữ tột cùng của một số dân làng mỗi khi có kẻ vô ý nhắc đến, hình như với người nơi đây, điều đó đã trở thành thứ tối kị không thể chạm vào.

“Tôi biết rõ mà, bọn họ không cho phép bất kì ai đến gần Hiền, mới bắt anh ấy đi rồi giam lỏng ở một nơi bí mật ngoài làng. Nhưng tôi đâu phải người làng Đốc, họ không có quyền hạn nào để ngăn cấm tự do của tôi.” Hình bóng Hiền chợt xuất hiện trong đầu Nam Thanh, rồi vụt tắt trong chớp mắt. “Dự định tìm người không thể nói suông là xong, phải cần thời gian dàn xếp ổn thỏa mọi thứ. Mong sao đến lúc ấy, anh Hiền, bạn tôi vẫn bình an.”

“Mấy kẻ đó bắt Hiền cũng vì sợ hãi căn bệnh quái ác trên người cậu ta sẽ lây lan khắp làng này nên dễ dàng gì họ để lộ dấu vết về nơi giam giữ người, mà giả sử cậu may mắn tìm thấy bạn mình thì người kia còn sống hay đã chết vẫn khó nói trước lắm.”

“Nếu người còn sống, mỗi ngày tôi mua thuốc đưa cơm, còn chẳng may mất rồi, tôi cũng phải đến thăm viếng đàng hoàng, làm tròn bổn phận của kẻ hiền mang ơn.”

“Đâu phải ruột rà máu mủ mà phải tận tụy dốc lòng. Tôi ghét nhất là mấy kẻ nặng tình nặng nghĩa với đời, buộc chặt bản thân trong trách nhiệm gồng gánh đầy nặng nề.” Gã không hỏi Nam Thanh mang ơn nghĩa thế nào, ơn tình ra sao, chỉ cảm thấy nàng đang tốn sức vào điều thừa thãi.

“Hôm đó, nghe Bình kể lại chuyện vong hồn nuốt mất hồn người, toàn thân tôi run rẩy, da thịt lạnh ngắt, đầu óc như trống rỗng, nay nhớ đến vẫn còn cảm giác khiếp đảm. Tôi sợ hãi trước cái chết rùng rợn của những dân làng xấu số, sợ hãi trước căn bệnh quái ác đã dần tàn phá cơ thể họ. Tuy nhiên, nỗi sợ của tôi cùng lắm chỉ thế thôi.” Đôi mắt gã sâu hoắm như cái hố lớn đen kịt, nghiền ngẫm, quan sát Nam Thanh một cách chuyên chú. “Tôi cũng giống như cậu vậy, không tin trên đời có chuyện vong hồn tác quái hại người.”

Nhét một quả trứng gà luộc mới vừa bóc vỏ vào tay Sa Vũ, nàng thẳng thừng dõng dạc: “Không giống chút nào! Anh không tin chuyện vong linh có thể hại người càng không tin trên đời có sự hiện hữu của chúng quỷ hồn. Nhưng tôi tin, tin rằng thế gian vẫn tồn tại bao điều lạ kì không ai ngờ đến. Phủ định và nhận định của tôi và anh Vũ đây khác biệt nhiều lắm!”

“Cái nghề kiếm sống của anh em bọn tôi phải thao thức chong đèn. Ban ngày thập thò, tối đến rình rập. Tiếp xúc nhiều nhất chính là xương xác vụn nát, thấy nhiều nhất chính là mồ mả đất hoang. Vậy mà chưa lần nào được diện kiến quỷ thần hiện thân.”

“Mấy anh làm nghề trộm mộ này chẳng sợ đêm về gặp ma, quấy nhiễu vong linh người đã khuất.”

“Thôi ạ, cậu Thanh cứ khéo đặt điều dọa dẫm. Anh em tôi làm nghề này đã gần mười năm nay mà có gặp chuyện gì không may đâu?” Gã không hề để tâm trong lòng còn ngặt nghẽo xua tay.

Nuốt xuống nửa quả trứng luộc ngậm trong miệng, Sa Vũ đứng dậy vỗ nhẹ bụng, vươn vai ngáp một cái thật dài: “Tuy không biết cậu Thanh là người phương nào, vì sao tuổi còn nhỏ lại lưu lạc khắp nơi, bần hàn nhếch nhác hơn cả bọn tôi – ba thằng dân đen thô kệch sinh ra ở vùng núi sâu nghèo nàn. Cơ mà chí ít tôi biết rõ một điều, cậu là người hiền lương đàng hoàng.”

Gã bỗng nhớ lại ngày đầu tiên gặp Nam Thanh, họ đều là hành khách lạ mặt trên chuyến tàu của đoàn ngư dân phương Bắc đến Châu Nam Quan. Lúc đó, Nam Thanh chỉ mặc mỗi cái áo dài xanh lấm lem bùn đất, thân áo rách tươm với những đường chắp vá sơ sài từ các mảnh vải vụn. Trong suy nghĩ của họ, dáng vẻ gầy gò yếu ớt như đứa bé đáng thương đã chịu đói nhiều tháng thế này, ắt hẳn sẽ là một tên nhát gan chỉ biết cúi đầu khóc lóc. Ấy thế mà có ai ngờ, người lại nhiệt tình vô tư hơn bất kì ai.

Cậu bé ấy đã đem theo chiếc túi lớn đầy ắp kẹo bánh lên con tàu nọ, chia đều và khoản đãi tặng mọi người. Chuyến đi kéo dài suốt mười ngày. Tiếng cười rộn rã cũng theo đó vang vọng mải ngày đêm.

“Lần đầu gặp mặt, cậu Thanh san sẻ lộ phí với ba em chúng tôi, giúp tụi này vượt qua cơn đói khát giữa đường, bình an đến huyện Ngọc Sơn ở Nam Quan. Ơn nghĩa đã nợ, anh em bọn tôi nhất định tìm cách đền đáp, dù là một thứ cũng sẽ không thiếu.” Trước khi quay lưng rời đi, gã mạnh dạn để lại một lời hứa cam đoan. “Nếu lần này thành công, bọn tôi sẽ trả ơn cậu thật hậu hĩnh.”

Nam Thanh đoán “Phần lễ hậu hĩnh” mà gã ta nhắc đến ắt hẳn là mấy đồng vàng đồng bạc chôn sâu dưới tấc đất lạnh lẽo, bên cạnh bộ xương trắng phủ đầy cát bụi đã bị người đời quên lãng từ rất lâu. Họ bảo rằng đó là kho tàng bạc vàng của người chết, đồng thời cũng là món mồi béo bở mà bao kẻ trộm mộ săn lùng.

Nắm quả trứng trong lòng bàn tay, cảm giác bỏng rát lan rộng trên da thịt, nàng trầm mặc hướng mắt nhìn ra mảnh vườn nhỏ sau bếp.

…

Lão Còi nằm thừ người trên sập gỗ, tay phe phẩy cái quạt tròn lông vũ, miệng ngậm miếng trầu tươi. Dưới dân lão ta là bọn hầu tớ xun xoe, bợ đỡ. Kẻ dâng trà, đấm bóp, người ca hát, nhảy múa. Dáng vẻ của những tên hầu này không khá khẩm hơn người chủ là bao, cũng kì lạ lếch thếch chẳng kém. Đàn ông để đầu trọc, mặc áo cổ rộng màu xám, quần trắng, mang giày bện cỏ. Đàn bà búi tóc vấn khăn vành tròn, đi chân trần, khoác cái áo dài cổ tròn tím rịm, quần trong rộng thùng thình và chiếc váy hai lớp vải bạc bọc cổ chân.

Có tám người, bốn nam bốn nữ, là người làng Đốc, không rõ tên họ thật.

Cô hầu nữ ngồi bên cạnh đang ríu rít kể chuyện cho lão nghe, tiếng thị cười lảnh lót vui tai, lại có cặp mắt hạnh lung linh sáng như ngọc. Trong bốn người đàn bà theo hầu lão, thị là người trẻ nhất đồng thời cũng là người đẹp nhất. Mặt trái xoan, mày lá liễu, mái tóc đen mướt, môi mỏng đỏ thẫm. Lần nào gặp thị, Nam Thanh lại tò mò nhìn thêm vài lần.

Lão già xồm xoàm kia hay gọi thị là gì ấy nhỉ? Nàng nhớ mang máng là…

Em Xuân của ta, người đẹp mỹ miều của lòng ta ơi…

“Trời ạ, mày lại đến, con quỷ cái thích tọc mạch chuyện thiên hạ.”

“Ông ăn cơm tôi nấu, uống nước tôi đun, mặc áo tôi vá, vậy mà cứ bới móc mắng nhiếc tôi là sao thế?”

“Mày quản trời quản đất, tao mặc kệ. Mày quản chuyện của tao, quản chuyện nhà tao, coi chừng miệng mồm toét máu, chân tay nát nhừ.”

Mùi gừng non chanh tươi thoảng gần chóp mũi, lão nhấc đầu khỏi gối, nhìn đến ấm nước trong tay Nam Thanh, tức thì bụm kín miệng nhăn nhó mặt mày: “Con quỷ cái trời đánh, mày lại tính bắt tao uống thứ nước dơ dáy này chứ gì! Không, không bao giờ!”

“Sạch hơn cái áo ông đang mặc là được rồi, nước gừng đường ngâm với vỏ chanh tươi, công hiệu giảm cảm, giải rượu tốt lắm đấy. Ông không uống thì tôi đem đổ nhé?” Đặt ấm nước còn bốc hơi nóng xuống sập, nàng rót ra chén rồi dùng muỗng nhỏ khuấy đều.

Lão hằn học: “Mày trộm cây chanh nhà tao, trộm bụi gừng nhà tao, giờ còn định phung phí của cải nhà tao, thôi thì mày cướp luôn đi mạng già què quặt này.”

Giật lấy cái chén trong tay nàng, lão ngó nghiêng hồi lâu, đến khi hơi nóng vơi bớt bèn bịt mũi phụng phịu húp từng ngụm nước ngọt lịm.

“Tao thừa biết âm mưu xấu xa mà mày đang làm, cố ý nói thế để tao mặc mày đổ hết đống nước đó. Rồi ngày mai, mày sẽ loan tin khắp nơi, nói ông Còi này là lão già điên khùng chuyên hà hiếp kẻ khác.” Dứt lời, lão ta vỗ mạnh tay lên đùi, bật cười to một cách khoái chí. “Ôi, mày vẫn còn non lắm. Ông đây rảnh rỗi đâu mà chấp nhất chuyện cỏn con với bây.”

“Thân ông như cây dừa khô rỗng ruột, chết héo chết mòn, ai cần làm gì?” Nhận lại cái chén đã sạch đáy, Nam Thanh buồn cười giễu cợt lại lão chẳng nể nang. Nàng đánh mắt sang bên cạnh, thấy Xuân bẽn lẽn cong môi, vén lên tóc mái trước trán để lộ đuôi mày xếch cao.

“Ông chòng ghẹo ai cũng nên chừng mực. Cậu ấy là quỷ thật, hẳn là con quỷ đực, một tên quỷ đực tham dục tham tình, chứ sao lại thành quỷ cái ạ?” Thị tít mắt cười trêu lão.

Xuân không giống bọn hầu trong nhà, tận sâu thẳm trong thị là thứ sức sống đầy mãnh liệt, có suy nghĩ của riêng mình và hành động như một người có trái tim bình thường. Mỗi khi nhìn thấy người lạ, họ im ỉm cúi đầu rồi lủi thủi trong góc khuất nào đó, như kẻ câm kẻ điếc, mặc kệ sự đời bên ngoài. Đâu như thị, gặp ai cũng đon đả nói cười, mời rượu kính trà, khiêm nhường đáp hỏi, miệng lưỡi sắc sảo hàn huyên đủ loại chuyện trong thiên hạ.

Lão Còi lười nhác tựa đầu trên gối xếp, nháy mắt lại ngoắc ngón trỏ ra hiệu. Xuân hiểu ý, chầm chậm bước về phía lão, trèo lên sập ngồi, vén lên một góc váy phô bày cặp chân dài nuột nà. Trước mặt lão, thị không cần phải ngại ngùng hay dè dặt, cứ tùy thích làm mọi thứ theo ý mình, quá quắt đến mấy cũng không sao. Chẳng hạn như việc ăn vận thường ngày, thị chỉ buộc hờ mỗi cái áo yếm đỏ tươi trên người và mặc cái váy mỏng trong suốt bên dưới. Dù vậy cũng chẳng ai dám chỉ trỏ chê trách.

“Ta nói sao thì em Xuân cứ nghe vậy, là cái hay đực cứ mặc xác nó đi.”

Nam Thanh rời mắt khỏi hai người, cố ý cắt ngang lời: “Hôm nay bận việc riêng nên tôi không về đâu. Báo một tiếng để các anh các chị khỏi phải canh cửa chờ tôi.”

“Dẫu mày đi luôn cũng chẳng sao, nói với tao làm gì. Ai rảnh mà đợi mà trông, có chó mới ngóng mày về.”

Nàng bỏ ngoài tai lời xỉa xói của lão, quay qua căn dặn Xuân: “Cơm nước thì tôi đã làm sẵn rồi, vừa đủ để mọi người ăn được hai hôm. Khi nào đói, chị chỉ việc hâm nóng lại thôi. Giả sử mấy món tôi nấu không hợp khẩu vị ai kia, cứ tự nhiên đem đổ hết đi ạ. Chị nấu lại cái khác, tôi không có ý kiến gì đâu.”

“Tôi không giỏi chuyện bếp núc trong nhà, hơn tháng nay có cậu phụ giúp, tôi đỡ vất vả hơn phần nào, mang ơn còn không kịp sao dám lên mặt chê bai.” Xuân lần tay qua tóc lão, dịu dàng miết lấy rồi vuốt ve.

Nói đoạn, thị cau mày ra sức khuyên nhủ: “Dạo này trong làng lùm xùm đủ chuyện, cậu có làm gì cũng phải cẩn thận đấy nhé. Tốt nhất là đừng đi đâu xa, kẻo rước họa không nên, đã có hai người ở làng này sắp chết dại chết mòn vì căn bệnh bị vong quỷ nuốt hồn. Lúc này đây, nhà nhà đều sầu lo trong sợ hãi, khổ lắm cậu Thanh ơi.”

“Tôi nghe nói kẻ lây bệnh cho Hiền là người thân trong nhà anh ấy. Hình như là một người con gái vô cùng xinh đẹp và đã lấy chồng nhiều năm.” Nam Thanh dò hỏi.

Bóc lớp vỏ bọc bên ngoài quả vải mọng nước, khéo léo tách phần hạt, Xuân đút cho lão Còi đang nằm lim dim bên cạnh: “Cô ta tên Huệ, là vợ cậu hai Hà – anh trai cậu út Hiền. Con gái lớn của ông Từ – làm nghề bán gỗ trong làng. Đoan trang, khuôn phép, là dâu thảo vợ hiền nhà người ta. Tiếc thay chồng lại mất sớm, trở thành góa phụ khi đang ở độ tuổi còn quá trẻ.”

“Từ ngày cậu Hà qua đời, thị đổ bệnh nặng liên miên, suy yếu trầm trọng về tinh thần và thể xác, thời gian lâu dần càng biểu hiện rõ dấu hiệu bất thường. Cho đến một hôm nọ, thị đột nhiên mất tích. Đi đâu bặt tăm mấy năm liền. Ngày mà thị về lại làng khiến ai cũng xôn xao. Nhớ những năm nào, cô Huệ vẫn nức tiếng với cái danh xưng ngoan hiền đẹp nhất làng. Thế mà nay lại trở nên điên dại tàn tạ đến thật thảm thương. Sau khi phát hiện thị mắc phải căn bệnh chết người kia, dân làng đã nhốt thị trong căn nhà cũ từng sống với chồng mình trước đó, cách nhà cậu Hiền chỉ vài bước chân. Những tưởng sẽ biết điều an phận, ai mà ngờ cơn điên của thị ta lại bộc phát, đêm nào cũng la hét khóc lóc, đập phá mọi thứ chung quanh. Mọi người trong làng không thể chịu đựng tiếp nữa mới quyết định giam thị ở một nơi an toàn khác. Tuy nhiên, lúc đang trên đường áp giải lại xảy ra chuyện ngoài ý muốn.”

Huệ biến mất. Ngay trong đêm khuya. Không để lại một dấu vết. Chẳng ai biết rõ người đàn bà đó đã chạy trốn tới phương trời nào. Đến nay còn sống hay chết rồi.

“Có phải người áp giải cô ta rời khỏi làng chính là mấy kẻ đã đưa anh Hiền đi? Họ mặc áo trắng, trùm mũ kín mít, không ai biết mặt mũi trông ra sao.”

“Cậu đoán không hề sai, là họ đấy. Kể ra cũng thật tức cười, không một người nào trong làng biết mấy người đó là ai, đến từ nơi đâu, vậy mà lại thật tâm trao cho họ sự tin tưởng không cần lí do và quyền định đoạt mọi thứ. Người dân làng Đốc gọi họ là cánh lính bắt hồn. Lính trấn giữ quỷ dữ. Kẻ lưu đày vong người tù tội.” Xuân thều thào, đầu ngón tay mơn trớn tấm lưng gầy yếu của lão Còi, ý cười nhạt thếch.

Mỗi lần nhớ đến nhóm người áo trắng kì lạ ấy, Nam Thanh bỗng cảm giác gai ốc sống lưng, tâm trí thì rối loạn. Giác quan mách bảo với nàng, nhất định có vấn đề khó hiểu đâu đây.

“Chị có biết họ đưa Hiền đi đâu không?”

“Chuyện này có gì hay ho mà cậu cứ gặng hỏi miết. Tôi chỉ là một con hầu thấp hèn, nào biết lời thực hư bên ngoài ra sao mà trả lời cậu được đây.”

“Tính tôi hay tò mò, gặp chuyện nào lạ đời là cứ muốn tìm tòi, truy hỏi cho thật cặn kẽ.”

“Cậu tò mò với chuyện lạ trên đời còn tôi thì thích nghe người ta đồn kể bao chuyện linh tinh, vừa khéo là một cặp tương xứng, nhỉ?”

Người nọ nhìn xuống chiếc giày rách dưới đất, phớt lờ câu nói đùa và không thèm đoái hoài đến thị. Cái nhíu mày của Xuân diễn ra trong chớp mắt, nhanh đến mức không ai kịp nhìn thấy.

“Đã đến làng này làm khách, ít nhiều gì đều phải nghe nói đến sông Cây Trầu, núi Rễ Dừa. Phía bên kia con sông Cây Trầu là đất rừng rộng lớn, mênh mông sắc xanh, có trầu tươi, sồi già, mai vàng. Xuôi về hướng Đông, trở về cuối làng sẽ thấy ngọn núi Rễ Dừa hùng vĩ, sương mù dày đặc bao bọc quanh năm, đỉnh núi chạm mây nom như cái chuông đồng khổng lồ, hoa thơm trái lạ chỗ ấy bạt ngàn. Dòm thế chứ xa xôi lắm.”

Nghe vậy, Nam Thanh bạo gan hỏi: “Chị Xuân đã thấy điều gì đó phải không ạ?”

Ban đầu, nàng còn khó hiểu trước mấy lời huyên thiên dài dòng của thị. Đến khi bình tĩnh ngẫm nghĩ lại vấn đề cũng là lúc một giả thiết mơ hồ lặng lẽ nảy mầm trong lòng nàng. Phải chăng đã có sự gợi ý nào đó trong câu nói vừa rồi…

“Ngày nào như ngày nấy, tôi bận rộn đủ thứ việc, thời gian rảnh rang đâu mà chạy nhảy lung tung để thấy điều này điều kia như cậu nói.” Xuân vắt chéo chân trên sập, chậm rãi phe phẩy chiếc quạt tròn lão Còi đã đưa thị với dáng điệu khoan thai. “Mà mấy hôm nay, tôi nghe đâu vài lời đồn đại kì lạ trong làng. Nào là vào đêm khuya, có vài bóng người áo trắng thấp thoáng trên con thuyền nhỏ ngoài sông. Nào là con thuyền ấy rẽ về bên kia đất rừng lớn hiu quạnh, mải đến khi trời hửng sáng mới trở về.”

Nam Thanh rót nước ấm vào chén, tự tay đưa sang: “Nếu là thật, chị đã giúp tôi một việc rất lớn đó ạ.”

“Ôi, tôi có làm gì lớn lao đâu mà cậu Thanh phải mang ơn. Kể cậu nghe mấy lời đồn thổi nhảm nhí này để cho vui thôi ấy mà. Cậu đừng dại dột chạy đến đó rình mò, loạng quạng một cái là thân xác phơi thây, chết tức chết tưởi. Lỡ có chuyện không may, đừng trách sao tôi không nhắc nhở và cũng đừng hòng bắt tôi gánh vác hay phải trách nhiệm cái tội nghiệt nặng nề cậu tự rước lấy.”

Lão già gai góc gối đầu trên đùi người đẹp đã ngủ thiếp từ lúc nào không hay. Thị sờ lên cánh tay lão gầy guộc, nét mặt lạnh tanh.

“Tội nghiệt nặng nề thì không có đâu, cùng lắm là mèo chuột bỏ mạng vì bản tính hiếu kì xốc nổi.” Nam Thanh cong khóe môi, thái độ đối đáp vô cùng bình tĩnh.

“Còn về núi Rễ Dừa, chị không tính kể nữa à?”

“Để hôm khác tôi lại kể tiếp, nếu cậu muốn được nghe chuyện hay, tất nhiên phải học cách kiên nhẫn chờ đợi thì mới có giá trị xứng đáng chứ.”

Ngồi hàn huyên một lát, Nam Thanh xin phép được về phòng. Xuân trách nàng bằng những lời hờn dỗi, hỏi khách quý đến nhà, cớ sao cúi mình với phận hầu con hèn mạt.

Nam Thanh thong thả đáp: “Chị bảo người tôi tớ trong nhà như vịt trong mương, như trâu ngoài đồng, tôi không dám bàn cãi. Chị lại bảo phận mình thấp bé hèn mọn, dòi từ trong xương thịt, tôi cũng nào dám nói chữ không.”

Bóng dáng người đã khuất xa. Thị đặt chiếc quạt xuống cái bàn tròn, kề bên tai lão thì thầm, người đang nhắm mắt bình yên trong giấc ngủ say: “Lời nói khi xưa thật chẳng sai, trách ai bây giờ, kẻ nặng nghĩa trời thích chữ phụ bạc hay người mù lòa thèm khát một cơn tình.”

…

Bảng hiệu treo trên gốc đa già được làm bằng gỗ dác sơn đỏ, bụi trắng phủ khắp bề mặt và mọc lắm rêu xanh. Nét chữ xiên xẹo, đường nét nguệch ngoạc. Nom gần hơn một chút sẽ dễ nhận ra những nét viết xưa ấy óng ánh sắc vàng hươm mịn màng như một lớp vàng thật quét lên bề mặt.

Đầu cổng quán trọ là hàng tre đằng ngà [3], sinh trưởng cao lớn, vỏ ngoài nhẵn mịn và sẫm màu rất tươi. Vừa là cây cảnh đẹp mắt cũng vừa là hàng rào chắn kiên cố. Chỉ có điều lối đi quá hẹp, dẫn đến mỗi khi ra ngoài đều phải cố sức lách mình qua bụi cây rậm rịt trơn nhẫy nước, rồi phải cẩn thận bước qua bụi tre ngà cao sum sê để tránh đạp lên chỗ rễ tre non và phần cỏ roi ngựa [4] mới mọc dưới chân. Mà những lần như vậy, đàn kiến nhỏ sẽ lũ lượt bu tới, cành khô, vụn lá vương vãi mắc trên tóc, cát bụi bay vào mắt ám trên áo quần.

Lão chủ già kệch cỡm kia nâng niu cỏ cây trồng trước cửa nhà như của quý, lỡ chẳng may chúng chết vì héo già hoặc bị ai đó vô ý giẫm nát mất, với cái tính cộc cằn của lão ta, nào dễ dàng chịu để yên. Một là nhào tới đấm đá loạn xạ, hai là nằm bẹp trên đất vùng vẫy khóc lóc, mà dù bên nào cũng làm người khác đau đầu không thôi.

Nam Thanh ngắm nghía chiếc áo xanh mới trên người thông qua cái gương đồng đặt trên nóc tủ gỗ, đằng sau gian phòng chật kín đồ đạc. Cái gương duy nhất trong nhà, cũ kĩ, nứt nẻ, mờ ảo. Hẳn rằng đã rất lâu chưa được ai lau chùi, mặt kính vỡ đôi chỗ và đóng bụi dày đến vậy mà.

Nàng giắt trâm lên búi tóc, đeo bên eo chiếc túi vải, cầm theo bầu rượu thơm đi ra cửa.

Bên ngoài sân, ba anh em Sa Vũ xách từng giỏ đồ nặng trịch để lên lên lưng bò, cố định bằng dây thừng buộc chặt, nào là búa to, rìu sắc, lưỡi cuốc… Họ đội mũ rơm, khoác áo tơi, quải sọt tre. Như mọi ngày, ba người chuẩn bị ra ngoài làm việc.

Nam Thanh ngồi im lặng dưới bóng cây mướp xanh mởn, giương ánh mắt man mác nỗi rầu rĩ về phương trời xa xôi. Sa Bình cởi xuống mũ rơm, vò lấy mái tóc ướt sượt mồ hôi, ngoái đầu nhìn lại phía sau rồi chạy nhanh đến chỗ nàng.

Cậu ta vỗ nhẹ lên vai Nam Thanh, cúi thấp người nói nhỏ với nàng: “Cậu cứ yên tâm ở nhà nghỉ ngơi. Khi nào xong việc, tôi sẽ giúp cậu hỏi thăm tin tức về anh Hiền trên đường về. Lỡ đâu anh em tôi gặp may tìm thấy manh mối mới thì sao.”

Nàng nhoẻn miệng cười, gật gù đáp lại cậu vài câu. Kể ra cũng lạ, ba người này không chỉ khác biệt về tính cách mà đến ngoại hình cũng vậy. Thoạt nhìn không giống anh em gì cả. Nếu họ không chủ động giới thiệu, mấy ai tin đây là máu thịt ruột rà.

Trong ba anh em, Sa Vũ là người cao lớn và khỏe nhất. Chân tay rắn rỏi, vạm vỡ, nước da ngăm đen, mày rậm tướng mắt sói dữ dằn. Tiếp đó là Sa Bình. Dáng vóc cao dỏng, màu da hơi ngăm ngăm, tóc rễ tre, mặt tròn, mũi khoằm mắt dẹt. Cậu em trai út, tức Sa Minh. Người còm nhom, mặt vuông chữ Điền, tướng mắt chim tước, da thịt nhợt nhạt, xanh xao. Tổng thể, mỗi người một nét riêng biệt, khó mà nhầm lẫn.

Hành trang và dụng cụ cần thiết cho công việc đã được họ sắp xếp gọn gàng. Theo lời Sa Bình, có lẽ phải mất năm, sáu ngày mới trở về. Cậu ta nhấn mạnh, nhất định trong chuyến đi lần này sẽ thu hoạch rất lớn. Bởi vì lo lắng chân bò giẫm nát bụi cỏ trước cổng nhà lão chủ già khó tính, ba người quyết định đi cổng sau thay vì cổng trước. Dọc theo con đường gồ ghề dẫn ra ngọn đồi trọc cạnh bìa rừng, thẳng xuống chợ nhỏ trong làng.

Họ từng kể với nàng, anh em họ đến từ vùng núi cao phía Nam – một nơi hẻo lánh nghèo đói, quanh năm suốt tháng chỉ có thể thấy cây rừng rậm rạp, cung đường núi quanh co với vách đá lớn hiểm trở. Mang theo ước muốn lớn lao về tiền tài, cả ba người quyết định rời khỏi quê hương, đến nay cũng đã mười mấy năm.

Chiều hạ, sương khói mờ ảo thung lũng, đường dài ngợp trong hương nắng tàn, khung trời cuối thu se sắt buồn rượi. Tre già trước rào đón gió mùa sang, mưa rơi lất phất qua song cửa nhà người.

Chiếc yếm đỏ bọc lấy bộ ngực căng tròn mềm mại, đôi mắt tình ướt át khẽ khép hờ, người đàn bà nâng li rượu con con tựa bên khung cửa, nhấm nháp, lẩm bẩm đôi lời mơ màng. Từ xa, thị ta cất lên điệu cười lả lơi: “Sông làng tôi quý giá hơn cả bạc vàng, ngọc ngà. Người chèo đò là một kẻ khù khờ bần hàn, đua đòi thứ vật chất xa xỉ trên đời, khát thèm cái tình đẫm ướt trần trụi, cái dục rặt sâu lòng người.”

Nam Thanh chạm tay lên bề mặt sắt cánh cổng, chậm rãi đẩy ra rồi bước qua bậc thềm, thoắt cái đã khuất bóng.

Nàng sực nhớ một chuyện, quên mất phải nói với thị rằng: “Thân tôi rỗng nghèo như gạo cạn trong hũ, biết tìm đâu quà quý biếu người?”

Bên kia dòng sông lớn có lẽ cảnh đẹp sớm tàn.

Chú thích:

[1] Tởn đến già – Sợ mà chừa đi, bị một lần tởn đến già. (Phương ngữ – Khẩu ngữ)

[2] Thuốc đắng đả tật – Thuốc trị bệnh có nhiều vị, tất phải có vị đắng. Vị đắng khó uống hơn vị ngọt, nhưng tan bệnh. Còn vị ngọt đánh lừa cái lưỡi chứ không khỏi bệnh được. Ý nói: Thuốc có vị đắng mới trị lành được bệnh. (Thành ngữ – Tục ngữ – Nguồn tham khảo: Đi tìm điển tích thành ngữ”. NXB Thông Tấn)

[3] Tre đằng ngà – Tre có thân và cành màu vàng tươi, kẻ sọc xanh, thường trồng làm cảnh. (Nguồn tham khảo: Đại Từ điển Tiếng Việt)

[4] Cỏ roi ngựa – Hay còn có tên khác là Mã tiền thảo. Đây là loại cầu thân thảo, nhỏ, sống lâu năm. Lá có hình lông chim, có răng cưa, không có cuống lá hoặc cuống lá rất ngắn. (Nguồn tham khảo: Thuocdantoc.com)