Slide 1
previous arrow
next arrow

14093-quyen-01

Quyển 01: Chuyện xưa ở Nam Quan.

Chương 03.

Trên cao, nền trời trong vắt không một gợn mây. Đằng xa, dòng chảy róc rách qua những khối đá lớn ngang sông. Sắc xanh đầy mỡ màng của cánh rừng chồi, như nhung như lụa mềm đổ bóng xuống tầm mắt. Bề mặt mướt mượt, mấy đường ngăn ngắt xen kẽ. Quả là vẻ đẹp dịu dàng êm ả.

Hôm qua, hoàng hôn buông xuống chưa bao lâu, Nam Thanh đã vội vàng gói ghém hành trang lên đường. Men theo con đường tắt hoang vắng dẫn vào làng, ghi nhớ lời chỉ dẫn nửa rời rạc nửa mơ hồ của cô Xuân, nàng bắt đầu công cuộc tìm kiếm trên mảnh đất làng khúc khuỷu này. May mắn thay, sáng hôm sau cũng đến đúng nơi. Đến rồi mới biết, hóa ra cạnh con sông ấy không chỉ có cây cau trĩu quả, bụi trầu mỡ non chằng chịt mà còn vô số các loại cây lớn khác, như lộc vừng, long não, cổ thụ, sồi, dừa… Nhưng kì lạ một điều, nàng không thấy cây mai vàng Xuân đã nhắc đến.

Dọc đường, Nam Thanh lượm được quả dừa rụng dưới gốc cây. Vỏ dừa màu nâu đậm, nhiều nước, mùi thơm nhẹ, quả tròn to, ước lượng khá nặng. Để ý mới thấy, trái dại ngọt và hoa thơm lạ mọc rất nhiều xung quanh. Nàng mày mò hái một ít nhét vào túi, sau đó loanh quanh gần ven sông tìm thêm cau kiểng đỏ [1] với đậu cọc rào [2], định bụng sẽ dùng làm thuốc khi cần đến.

Nàng đã gặp người chèo đò bên sông Cây Trầu. Cái người mà theo lời cô Xuân kể: “Đua đòi thứ vật chất xa xỉ trên đời, khát thèm cái tình đẫm ướt trần trụi, cái dục rặt sâu lòng người.”

Trên con đò, bóng dáng gầy gò trong chiếc áo dài màu lam, mái tóc người bạc sương, đầu chít khăn trắng, lụm cụm khom lưng với đôi vai yếu ớt gánh bao chuyện nặng nhọc.

Theo lễ phép, nàng bước tới hỏi thăm: “Chào cụ, cho cháu hỏi bao nhiêu đồng cho một chuyến đò sang sông ạ?”

“Rẻ lắm cậu ơi! Năm mươi đồng vàng. Một hộp lá trầu quả cau tươi. Hai điếu bát [3]. Sáu tấm lụa hồng.”

Mụ ta cười niềm nở, vẫy tay gọi rối rít. Đến khi thấy nàng lấy ra chiếc túi tiền đã cũ rích tơi tả, vẻ nhiệt tình trên gương mặt mụ lập tức biến mất: “Ra chỗ khác chơi đi, không có tiền tự mà qua sông, già đây không tiếp người nghèo.”

Đứng đây mãi cũng không phải cách hay, nghe người ta lớn tiếng mỉa mai cũng biết buồn tủi trong lòng. Nàng lủi thủi quay lưng, bước vài bước lại ngoái đầu nhìn lại phía sau, rước lấy tiếng quát tháo, cái trừng mắt càng dữ dằn.

Nàng ngắt xuống cành gai dài, vẽ vài đường xiên xẹo trên thân cây gỗ mềm, rồi lại thọc sâu vũng bùn nhão nhoẹt dưới chân, cứ vậy, lặp đi lặp lại không biết bao lần. Nàng chán chường thở dài, đành ôm quả dừa vào lòng tiếp tục loanh quanh trong vô định.

Nam Thanh chợt nhớ lại chuyện tối hôm qua, cơn rát ê ẩm cắt trên da thịt, sống lưng buốt lạnh, lòng dấy lên cảm giác rờn rợn khó tả. Những kẻ kì lạ lang thang bên đường, hẳn là rất kì lạ. Vẻ mặt họ phờ phạc, áo quần trên người ướt nhèm, cái cổ cứng ngắc cử động, cặp mắt hau háu liếc dòm, giọng ngắc ngứ: “Khi… khi nào thì mày về nhà… nhà?” Hình như đang hỏi nàng.

Bây giờ nghĩ kĩ, nói không chừng là trò đùa nhằm dọa dẫm mấy vị khách lạ trong làng. Nàng khá chắc với phỏng đoán này.

Lá vàng rơi xuống mũi chân, đậu trên vai áo, phảng phất đâu đây vị mật ngọt lịm, sương sớm trong trẻo. Dứt óc khỏi mớ suy nghĩ rối ren, Nam Thanh chợt nhận ra mình đã dừng bước bên cây sồi lớn nhất giữa hàng cây xanh rậm rạp bên sông, từ lúc nào không hay. Mùi thơm của gỗ sồi rất đậm, thấm vào ruột gan cảm giác thanh mát thư thái. Nàng ngước mắt, trông cho rõ, trông cho kĩ.

Cây sồi cao sừng sững như núi, thân gỗ nua già cứng chắc, nhú lên mấy mắt bướu sần sùi. Cái rễ to uốn mình trong lòng đất lạnh, lớp vỏ ngoài xù xì, dày nặng. Cành cây rậm rạp vươn dài, các tán lá sum sê mọc đan xen tạo thành mảng xanh ngát phủ rộng. Tiếng bước chân rất khẽ thế mà vẫn đánh thức người đang ngủ thiếp trên cây. Tay áo dài trắng như tuyết nhẹ rủ, chất vải mềm mại lành lạnh phả vào mũi nàng hương bưởi nhàn nhạt. Chàng đột ngột mở mắt, nghiêng đầu nhìn xuống bên dưới, con ngươi mông lung ngà ngà trong hơi say. Người nọ vẫn đang giương mắt mỉm cười nhìn chàng. Ánh nhìn ngơ ngác chứa đựng tò mò, ngây ngô. Dương Huyền vắt tay lên trán nghĩ ngợi, không nhịn được hỏi: “Cậu là người làng này à?”

“Thưa, không phải ạ.” Vòng qua gốc cây hai lần, nàng nhón chân, lần nữa ngước mặt ngó nghiêng. “Còn ngài thì sao? Chắc cũng như tôi, không phải người làng này rồi.”

“Cớ chi mà cậu nói thế?”

“Là linh cảm của tôi đã nói vậy đó. Nó bảo với tôi rằng ngài không thuộc về nơi đây. Nơi ngài thuộc về hẳn là cổng lớn thếp vàng, cổng lớn thếp bạc.”

Một ngôi làng nhỏ với lối sống dân dã và giản dị hàng ngày, mặc áo quần vải thô, chân trần đi trên đất, đã quen cơm nguội độn sắn, cháo trắng rau xanh. Một số nhà khá giả trong làng cũng chỉ dùng loại vải hoa làm áo mới những dịp đặc biệt, mỗi bữa cơm có các món mặn chay, bánh trái rồi trầu thơm, đã được xem là sung túc, đầy đủ. Còn về người đàn ông này… có sự tương phản, khác biệt quá lớn với dân làng. Trang phục may bằng vải gấm quý giá, chân mang giày nhung đế mỏng, cổ đeo vòng kiềng ngọc bích, trên thắt lưng giắt quạt gỗ hương trắng. Chẳng cần phỏng đoán đâu xa. Người không giàu sang thì cũng phú quý.

“Dân thường như ta cũng như bao kẻ bình thường khác, khoác nhung lụa lên người không đồng nghĩa có thể bước qua cổng lớn nhà cao, cậu nói ra mấy lời này không sợ bị chê cười hay sao?”

“Tôi ăn nói quá vụng về, nếu ngài muốn cười thì cứ làm đi ạ.” Mũi chân nàng vẽ lên đất mấy đường sọc ngang lộn xộn, môi mím lại, mặt buồn xoa. “Thật tâm tôi chỉ nghĩ tặng ngài lời ngợi khen hay nhất. Ngợi khen khí chất cao quý, phẩm cách thanh cao, tài đức hơn người của ngài.”

Dương Huyền ngồi vắt vẻo trên chạc cây, đầu ngón tay gõ nhịp nhàng lên đùi, đôi mắt nheo lại cười nhạt. Mới gặp lần đầu, đến cái tên để gọi nhau còn chưa biết, vậy mà đã vồn vã dành nhiều lời ca ngợi, hết tỏ vẻ kính trọng, lại bình phẩm về tài đức, về phẩm cách, về khí chất từ một kẻ xa lạ. Đúng là oắt con nói dóc chẳng biết ngượng mồm.

“Thầy tôi từng dạy, đàn bà chân trần, người kiên cường trong cảnh khốn khổ, tâm vững mà lòng cũng vững, trời cao ắt sẽ rủ lòng xót thương. Đàn bà mang hài, thuở nhỏ là châu ngọc bọc trong nhung lụa, nếu là người hiền từ kính Phật, đức hạnh vẹn toàn, mai này sẽ là hoa quý trong núi Tiên. Đàn ông chân trần, thân như cổ thụ trăm năm chắn lấy gió sương, gánh vác trên vai sự hưng thịnh thái bình non sông, là ngựa chiến rong ruổi đất sa mạc khô cằn, là tên nông phu nghèo nàn bắt cá trong làng. Đàn ông mang giày, khoác gấm bào, trời sinh mang mệnh quyền quý, tư chất phi phàm của người quân tử khiêm nhường, một đời này làm vị khách an nhàn trên thuyền đò, ngắm nhìn quang cảnh phồn hoa, thấy rõ bao thế sự luân thường rung chuyển.”

Người này nhìn còn khá nhỏ, ước chừng chỉ mới mười bốn, mười lăm tuổi, lại dõng dạc bao lời cao thâm như bậc thánh nhân trí tuệ thông hiểu mọi chuyện trời đất. Dương Huyền kinh ngạc, gõ đầu quạt khe khẽ vào lòng bàn tay, nét mặt chàng trầm ngâm lạ thường. Suy nghĩ về điều ẩn ý giấu kín trong mỗi một lời đã được nghe. Suy nghĩ về số phận bạc bẽo người đàn bà lam lũ bên sông núi.

Ánh nắng rọi xuống đồng cỏ mùi đất ẩm vừa chớm, lồng ngực phập phồng theo mỗi nhịp thở đều đều, hương vị thiên nhiên của đất trời, khung cảnh bình yên mà hùng vĩ của sông núi đã làm mọi giác quan trên cơ thể phải rộng mở căng tràn. Và rồi, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt nàng, một dáng dấp cao lớn đĩnh đạc đang chậm rãi bước tới. Nàng thấy mái tóc đen mượt như gấm, đôi giày nhung thêu cánh chim bạc, dải lụa trắng thắt eo xỏ hạt mã não sáng bóng, áo quần tươm tất gọn gàng, kiểu cách đơn giản mà không mất phần tao nhã. Đến phiên dung mạo càng làm người nhìn ngỡ ngàng, khuôn mặt trái xoan, dáng mày lưỡi mác sắc sảo, cánh mũi cao thanh tú, đôi môi mỏng như thoa son, cặp mắt phượng trong trong nét tình. Chàng không bới tóc vấn khăn xếp mà xõa dài phía sau vai, lọn tóc bết trên má, vài sợi cong cong buông thõng.

Nàng tắc lưỡi, xuýt xoa mấy tiếng rất khẽ, chợt nhận ra lời khen ngợi vừa rồi đâu phải nói ngoa, quả đúng là áo lụa đẹp vì người mà.

Dương Huyền ngồi xếp bằng trên đất, lòng băn khoăn nghi vấn: “Ta có điều vẫn chưa hiểu, đầu tiên là về hai câu đầu. Vì sao người chịu cảnh khốn khổ chỉ được trời cao rủ lòng xót thương? Còn người từ khi sinh ra đã hưởng thụ mọi sự cung phụng và giàu sang khi chết đi lại thành hoa quý trong cõi tiên? Hay chỉ vì lúc sinh thời họ không may mắn xuất thân bần hàn nên đến thần phật cũng dè bỉu xem thường.”

Nam Thanh cũng thủng thẳng ngồi xuống đối diện Dương Huyền với khoảng cách vừa gần. Nàng vẫn còn ngạc nhiên vì những lời sỗ sàng từ chàng, thật tâm mà nói, quá mức thẳng thắn cũng không phải việc tốt gì.

“Thầy tôi kể rằng, người trải qua luân hồi ắt có nhân quả thiện ác trong những kiếp này và những kiếp sau. Mười kiếp tu hành đằng đẵng, mỗi một kiếp có chín mươi chín năm, một năm còn lại phúc lành ơn trời, trường thọ trăm năm, nhưng đồng thời cũng là xiềng xích buộc linh hồn mãi trong thân xác già cỗi.”

“Đầu bạc trăm tuổi, chuyện tốt, chuyện tốt. Đầu bạc trăm tuổi, chuyện không tốt, không tốt.” Nàng lẩm bẩm câu này những mấy lần.

“Kiếp này lòng người cao cả từ bi, rũ bỏ mọi duyên trần còn dang dở. Kiếp sau như loài bướm thoát kén, dung mạo không đẹp như hoa thì cũng toát lên khí chất thanh cao. Kiếp thứ ba, người chẳng may lầm lỡ điều sai, đến cuối đời bệnh tật phải chịu giày vò. Kiếp thứ tư, người sống vất vưởng trong cảnh nghèo khổ, đánh đổi tuổi xuân xanh chỉ để kiếm tìm thứ mộng tưởng không thật. Kiếp thứ năm, người được sinh ra trong nhà khá giả, có cha mẹ yêu thương, anh em đùm bọc. Kiếp thứ sáu, người khốn quẫn vạn điều, chết vì dục, vì tiền, vì tham.”

“Mấy ai may mắn đi qua mười kiếp luân hồi vẫn giữ vẹn đức hạnh ban đầu. Mấy ai may mắn đi qua mười kiếp luân hồi vẫn mang lấy thân xác truân chuyên người đàn bà. Mấy ai may mắn đi qua mười kiếp luân hồi vẫn hiền hậu nhân đức với đời. Nếu có, há chẳng phải nên là hoa quý trong núi Tiên ư?” Nam Thanh miết ngón tay lên góc áo lấm lem vết bùn, vuốt phẳng theo chiều dọc, kết thúc lời răn dạy của người thầy già đáng kính.

“Lời cậu nói cũng có lí lắm.” Dương Huyền lại hỏi. “Hai câu sau cùng, người được đánh đồng như cây lớn chắn lấy giông bão, như chiến mã rong ruổi sa mạc, như gã nông dân nghèo bắt cá, ấy thế mà lại trở thành vị anh hùng gánh vác thái bình non sông một nước. Còn người mang mệnh cách quyền quý, sở hữu tư chất đáng khen của người quân tử chỉ có thể làm một vị khách an nhàn trên con thuyền nát trên sông. Đấy là vì sao?”

“Tôi có nói người ngồi thuyền nát bao giờ!” Thấy nàng chau mày nhanh nhảu đáp trả, chàng cười xòa, bảo mình lỡ lời.

“Thầy tôi không giải thích cặn kẽ về hai câu cuối… nhưng phần nào tôi vẫn hiểu được đại khái.” Nam Thanh ngượng ngập cúi đầu, cũng vì câu hỏi này của chàng đã làm nàng rơi vào cảnh bí bách.

“Quân giặc xâm lăng, dân chúng lầm than trách trời. Các tướng lĩnh cúi mình trước vong hồn người đã khuất. Nhà Vua khoác áo rồng chân trần bước đi trên đất lạnh, đạp lên gai nhọn và xương khô. Đối mặt với non sông vĩ hùng, muôn dân trong thiên hạ, ngài cũng chỉ là người nông dân nghèo.” Càng về sau, tiếng nói nhỏ dần, nhỏ dần, rồi bỗng nhiên tắt hẳn. Có điều gì đó đã làm nàng tắc nghẽn lời định nói. Dương Huyền nhìn nhiều hiểu nhiều, còn gì không rõ nữa.

Hai mắt vẫn nhập nhèm, lim dim, chàng tựa lưng vào thân cây đằng sau, nhếch môi, thản nhiên bật ra tràng cười mỉa mai: “Hai câu đầu tiên, cậu diễn giải rất chi tiết, mỗi một chữ đã nói đều thể hiện sự hiểu biết về Kính ngữ Đạo đức, Nữ huấn Tam tự [4], phẩm cách thanh bạch của người phụ nữ. Tuy nhiên, khi nói đến hai câu sau, cậu lại bộc lộ sự kém cỏi, không đủ năng lực để lột tả những uyên thâm trong lời thầy răn dạy. Đó là cái sai nghiêm trọng, vừa là điều đáng tiếc.”

Lặng lẽ quan sát mọi biểu cảm thay đổi trên mặt Nam Thanh, vẻ bàng hoàng, mơ hồ lúc này của nàng không thể thoát khỏi mắt chàng. Dương Huyền được nước lấn át, thẳng thừng châm chọc: “Vốn dĩ lời đẹp nghĩa hay, qua miệng cậu truyền đạt đã tự biến bản thân thành kẻ hống hách tự cao, mang ý suồng sã bất kính bề trên.”

“Tôi không có ý bất kính ai cả! Càng không phải người có tính nết xấu xa. Nếu chỉ vì miệng lưỡi vụng về, ăn nói không biết chừng mực mà phải chấp nhận tội danh lớn đến thế, tôi thấy mình oan ức lắm ạ! Giả sử có nói gì sai, làm gì không đúng, cứ nhắc nhở một tiếng là tôi sẽ sửa lỗi ngay mà.” Nàng hốt hoảng giải thích.

Dương Huyền buồn cười: “Dốt hay nói chữ [5]. Đẽo cày giữa đường [6].”

Dẫu không hiểu người này đang nói gì, song nhờ vào linh cảm mách bảo, lại thêm điệu bộ cười cợt rành rành trước mắt, nàng khẳng định đấy chẳng phải lời lẽ tốt đẹp.

“Gặp người lạ chớ có thân chớ có quen. Thầy cậu không dạy điều này à?” Dường như đã nhàm chán cuộc bàn cãi vô nghĩa, chàng đề sang chuyện khác.

“Thầy tôi không dạy bảo nghiêm ngặt vậy đâu. Ngược lại, thầy dặn dò tôi, nếu có duyên gặp gỡ ai đó, cứ tiến tới làm thân, lựa thật nhiều lời hay ho khen ngợi.” Nhắc đến chuyện này là nàng nhoẻn miệng cười. “Lời khen đâu mất tiền mua, người nghe lấy làm vui thích mà người nói cũng vui vẻ theo. May mắn trở thành bạn tốt, lỡ mai này gặp khó khăn đôi bên nương nhờ giúp đỡ lẫn nhau.”

Ồ một tiếng, bằng vẻ mặt thích thú xen kẽ đôi chút nghiền ngẫm, Dương Huyền dần hiểu ra ngọn nguồn vấn đề, không vòng vo, chàng hỏi thẳng: “Cậu đang nan giải chuyện gì, kể ta nghe thử.”

Ngay lập tức, Nam Thanh ngó mắt sang con sông dài đằng xa, ngón tay hướng về chiếc đò nhỏ.

“Tôi định qua bên sông tìm bạn, khổ nỗi túi tiền rỗng tuếch, người chèo đò còn ra giá quá cao.” Như để chứng minh lời mình nói, nàng đưa chàng xem cái túi tiền vừa cũ vừa rách mang theo. “Đây này. Rách te tua luôn! Chỉ còn vài đồng dành dụm đi đường.”

Ý cười trên môi Dương Huyền bỗng tắt ngấm, chàng đứng bật dậy, chân đạp khúc gỗ dừa nằm chỏng chơ cạnh gốc cây già, với một lần vung sức, gỗ vụn đã vương vãi, thân gỗ ram ráp nứt toác. Nam Thanh co lại hai chân, im bặt. Nàng đủ can đảm nhìn thẳng vào chàng, không có nỗi sợ hãi chiếm cứ trong đôi mắt thảng thốt ấy. Tuy nhiên, sự run rẩy trên gương mặt non nớt thì không tài nào tiêu tan.

“Nói nhăng nói cuội cả ngày trời hóa ra vì muốn ngửa tay xin tiền, vậy mà ta còn ngốc nghếch ngồi nghe cậu nói mấy lời dư thừa. Cứ ngỡ hôm nay đã gặp được người học trò tài hoa nào đó, không ngờ chỉ là một tên nói dóc nói khoác.”

Bằng phản ứng nhanh nhẹn, nàng nhét túi tiền vào cái túi lớn đeo lỏng lẻo bên hông. Dĩ nhiên, không quên việc đáp trả: “Không có nói dóc, không có nói khoác. Ai đời lại đi xin xỏ người mình mới gặp lần đầu, tôi cũng biết ngại mà! Sau đó tôi nhớ lại lời thầy đã dạy, muốn nhờ người khác giúp đỡ trước tiên phải biết tạo ấn tượng tốt, để họ cảm thấy ta là người bạn kết giao đáng tin cậy.”

“Ừa. Ấn tượng tốt thật. Nhìn bản mặt này của cậu thật đáng tin cậy.”

“Vâng. Đáng tin cậy lắm ạ.” Nàng sờ tay lên mặt, vuốt nhẹ vài cái rồi gật gù tự khen.

Gõ mạnh đầu quạt vào lòng bàn tay, Dương Huyền mím chặt môi, cau mày. Cơn tức tối trong lòng vẫn chưa nguôi ngoai cơ mà không hiểu sao lại cứ thấy buồn cười. Vẻ hậm hực trên mặt chàng đã dịu dần: “Nếu ta không chịu giúp, cậu tính thế nào?”

“Chẳng làm sao cả. Mỗi cuộc gặp gỡ trên đời đều bắt đầu từ chữ duyên. Gặp là duyên, không gặp cũng là duyên, quên rồi cũng là duyên. Duyên tôi duyên người, hết tan lại hợp, vốn là lẽ thường tình.”

“Đừng ba hoa mấy lời sáo rỗng trước mặt ta.” Chàng gấp quạt giắt gọn sau thắt lưng, thái độ ung dung đến lạ. “Một chuyến đò thôi mà, đắt đỏ bao nhiêu mà cậu kham không nổi?”

“Năm mươi đồng vàng, một hộp lá trầu quả cau tươi, hai điếu bát, sáu tấm lụa hồng.” Nghe sao thì kể vậy, nàng không dám đặt điều, cắt bớt hay thêm thắt dù nửa chữ.

Chỉ có bấy nhiêu. Thật bèo bọt. Dương Huyền lẩm bẩm. Nếu cái giá ấy có thể cao hơn, đổi lại là của ngon vật lạ trên đời, là ngọc ngà, châu báu vô vàn, chàng khéo léo chối từ, âu cũng là chuyện hiển nhiên. Tiếc thật. Tiếc thật.

Dương Huyền đã nhấc bước một khoảng xa. Nam Thanh nhìn theo bóng lưng chàng, muốn gọi lại nhưng lòng băn khoăn đủ điều, thành ra cứ ngồi im lặng chân tay luống cuống.

“Vừa hay ta cũng đang tính thuê đò qua sông, hay hai ta đi cùng nhau nhé?” Chàng ngoái đầu nhìn nàng, môi nở nụ cười hiền.

Nàng lập tức đứng dậy vội vàng đuổi theo, cùng người sóng vai bước đi trong bầu không khí hòa hợp lại rôm rả. Trên đường, nàng huyên thiên hết việc này đến chuyện kia, mà người nghe cũng kiên nhẫn lắm, chẳng tỏ vẻ nóng nảy hay khó chịu chê trách.

“Ngài dạy rất đúng ạ. Đáng lẽ tôi nên cân nhắc thật kĩ trước khi muốn nói điều gì đó. Nói không hay, nói sai, người ta chê cười cũng phải thôi.”

Nàng nói nhỏ: “Thầy tôi từng nói thế này…”

“Cái khổ của đời người không nằm trong kiếp này hay kiếp sau. Cái khổ của đời người bắt đầu từ những chuỗi ngày họ đang sống và chết dần. Khổ vì cảnh bần hàn nghèo đói, khổ vì cảnh giàu sang bạc vàng. Người khổ vì chén canh thừa, người khổ vì chén cơm nóng, người khổ chỉ vì nghĩa tình sâu nặng, vì tình cạn nghĩa mòn. Nỗi khổ của đời đắng như thuốc, nhạt như nước, như đôi mắt đã rỗng trống hồn người.”

Dương Huyền cười khẽ, không đáp lại lời nàng.

Chắc hẳn là vậy rồi.

…

Kẻ có tiền, ai gặp cũng nể cũng sợ. Kẻ có tiền, đến quỷ thần cũng cúi đầu.

Đấy là câu nói Nam Thanh hay được nghe mỗi khi ghé đến mấy quán nước nhỏ nằm bên đường. Người thốt ra những lời ấy không phải những gã đàn ông thô kệch nồng nặc hơi rượu thì cũng là những cô gái điểm trang lòe loẹt trong bộ đồ sặc sỡ hương phấn son. Nàng ngồi bàn bên nhìn áo quần họ luộm thuộm, tóc tai xơ xác, nghe họ lể kể không ít chuyện phiền hà trên đời, nghe họ túm tụm nhau than trách số phận leo lắt lận đận. Mà trời cao, lại chỉ thiên vị bao kẻ chơi bời, những kẻ thảnh thơi ăn trong bát vàng, cầm đũa ngà ngọc rủng rỉnh tiền bạc.

Mải đến khi tận mắt chứng kiến, nàng mới hiểu vì sao người ta lại hay giở tính so đo để rồi mặt ủ mày chau. Nhìn thỏi vàng lấp lánh trong tay Dương Huyền, lại nhìn sang vẻ mặt mừng rỡ khôn xiết và sự hậu đãi nhiệt tình của lão bà chèo đò, Nam Thanh thở dài trong bất lực. Nay đã tường tận, thế nào là sức nặng đáng gờm của người có tiền, sức nặng vật chất có thể đổi thay rất nhiều thứ.

Trên con đò, một tấm thảm lông cừu mềm mại được trải ngay ngắn ở chỗ ngồi, bên cạnh có cái bàn gỗ tròn và hai cái nồi đất nóng hôi hổi. Theo trình tự, Nam Thanh đặt lên bàn chiếc túi đầy ắp đồ dùng, quả dừa tròn nặng nước, bầu rượu hồ lô màu đen, rồi ngồi xuống đối diện Dương Huyền. Nàng hỏi thăm, bèn biết mụ tên Tình, người trong làng hay gọi là cụ Tình tóc trắng, cụ Tình đò hoa.

Mụ ta hỏi han ân cần vị khách anh tuấn lại có khí chất phong độ trước mắt, còn cái người gầy guộc, khẳng khiu như cây sậy, mặt mũi bình thường đi cùng chàng thì chẳng thèm ngó ngàng đến. Cảnh tượng này quen lắm. Nam Thanh thấy nhiều, gặp nhiều nên đâu còn lạ nữa.

“Cụ nấu món gì vậy ạ?” Nàng nheo mắt, ngón tay chỉ vào hai cái nồi nghi ngút khói.

Mụ đút ít than củi vào lò đất nung, mở nắp, dùng thanh gỗ tròn mài nhẵn đảo đều thứ nước trắng đặc sệt trong nồi. Lửa nhỏ vừa chín tới thì múc ra chén, rắc lên bề mặt hành khô nhuyễn, sợi dừa xắt mỏng. Nam Thanh nhướng mắt nhìn lom lom, ra là cháo cá hầm nước dừa. Sang cái nồi thứ hai đã nhấc xuống bếp, mấy cuốn xôi khúc [7] thơm phưng phức, mẻ nếp dẻo mềm, hạt đậu to vàng tươi, lát thịt mỡ lợn mọng nước, béo ngậy.

Dương Huyền nhận được chén cháo thơm nóng hổi và đĩa xôi khúc thịt đậu đầy đủ, còn Nam Thanh chỉ được mụ cho một chén nước sôi thêm nửa miếng gừng non.

Mụ ấy đặt đôi đũa lên bàn, gò má ửng hồng, đầu cúi thấp ăn nói khép nép: “Già biếu ngài ít món quê nhà, tuy không phải cao lương mĩ vị nhưng vẫn đầy đủ cái hương cái vị dân dã của xứ này, mong rằng ngài không chê ạ.”

“Cụ khéo tay quá. Cháo trắng vừa đặc vừa mịn, bổ dưỡng lại còn thơm nữa. Xôi cuộn lại thành lớp dày vừa phải, nhân trong hai màu mặn ngọt chan hòa.” Nam Thanh rộn rã trong lòng.

Cái thúng đằng sau đựng đầy mía chín, mụ lấy ra cây mía dài chẻ đôi làm hai khúc, róc sạch vỏ cứng rồi hăm hở đưa Nam Thanh. Nàng nhận lấy trong bất ngờ, vị ngọt thanh từ ruột mía khiến nàng phải say mê khép mắt, tiếp đó hí hửng gặm lấy gặm để, mặc cho nước dãi nhỏ xuống đùi, dính hết trên tay.

“Người đã luộm thuộm ăn uống còn bầy hầy, thật chẳng ra làm sao.” Dương Huyền khó chịu ra mặt.

Nàng xem mấy lời này như gió thoảng qua tai, ậm ừ có lệ rồi thích sao thì làm thế. Để ý thấy chàng vẫn không động đũa hai món trên bàn, nàng lấy làm lạ, thử hỏi.

“Ngon đến mấy mà không có nhã hứng để thưởng thức khác gì đang nhai rễ ngậm bùn.” Chàng nhếch môi, giọng điệu hờ hững. “Tiền trao cháo múc, không ép buộc ai chuyện tày trời.”

Hai mắt mụ ta đỏ hoe, lệ ươn ướt mi, tay run bần bật. Nam Thanh thấy hơi tội, nhưng rồi nghĩ lại, nàng biết nói gì đâu mà định khuyên nhủ người ta, vậy là chỉ đành im lặng.

Cái tình của người trẻ mơ hồ mà bi lụy, cái tình của người già đằng đẵng mà mịt mờ. Người tên Tình, có tình, có thương, âu cũng là duyên, là phận.

Vẻ si mê trong đôi mắt ướt át của mụ không tài nào giấu được ai. Hơi sương lành lạnh xen lẫn hơi cay nhàn nhạt của vị trầu thở ra từ miệng. Bàn tay gầy gầy của mụ vuốt ve nhẹ nhàng lên phần da thịt rắn chắc của người đàn ông, chầm chậm luồn qua cổ áo. Ngón tay trượt dần xuống cổ, những vết xước in sâu dưới móng tay thô dài.

Vừa gặm mía say sưa, Nam Thanh vừa mở to mắt dòm họ lom lom. Mặt Dương Huyền lạnh tanh, sửa sang lại cổ áo nhăn nheo, không nói không rằng bắt lấy cổ tay đối phương dứt khoát kéo ra. Chàng không nể nang người lớn tuổi, không nhường nhịn người nhỏ tuổi, thẳng thừng thốt lên lời dè bỉu: “Xin cụ hãy rửa cho sạch mùi phấn son trên người, tuổi tác đã cao, đầu đã bạc trắng, da thịt đã rệu rã, sức lực còn đâu mà lòng dạ nhỏ nhen cứ đua đòi.”

Mụ bật khóc rấm rứt, nước mắt chảy dài chảy ngắn trên má. Không ai để ý đến mụ. Không ai lắng nghe câu chuyện vô vị mụ kể. Thế rồi, mụ ta lại bật cười, tiếng cười chua chát đầy sự cợt nhả với đời, điệu cười ấy như kẻ điên kẻ dại đang ra sức vùng vẫy dưới dòng chảy lạnh lẽo.

Sau đó, mụ trở về với dáng vẻ cúi mình lầm lũi, phớt lờ ánh mắt soi xét hướng về, thong dong khua mái chèo, để con đò nhỏ được rời bến đậu, được tự do dập dềnh trên dải sông dài rộng lớn.

Dương Huyền đột ngột nói: “Nhỡ nay mai ta với cậu thành xác trôi sông, nhớ lấy không trách được ai.”

“Ông trời ngó xuống mà xem, miệng mồm thật độc địa.” Nguýt chàng một cái rõ dài, trề môi như thể chê trách, nàng thì thầm mỗi mình nghe.

Con đò đã đi qua cánh rừng nước rậm rịt, dãy đồi núi trùng trùng điệp điệp giữa các tầng mây khói xanh. Cũng đi qua khúc sông dài uốn lượn những bọt sóng lăn tăn, trong hương nắng hanh hao chớm ngày thu, vị cỏ mùa thanh ngát thấm sương rơi, trong sắc vàng óng ả chiếu rọi như màu hôn hoàng trái ngọt. Nơi lục bình tươi xanh nở ngút ngàn, rêu bèo trôi nổi trên mặt sông biêng biếc. Quang cảnh yên bình trong lành.

Nam Thanh vịn vào thành đò, rướn người, chọt cành cây dài xuống nước, mấy con cá nhỏ lập tức hoảng sợ, bơi tán loạn. Dương Huyền tựa cánh tay lên mép bàn, phẩy nhẹ chiếc quạt xếp gỗ hương, hết chau mày nghĩ ngợi lại âm thầm đánh giá người đối diện thật tỉ mỉ. Khuôn mặt tròn trịa, đôi mắt sáng lúng liếng, lông mày cong mỏng, cái mũi loáng bóng cao cao, nước da trắng nõn căng mọng như ruột vải tươi, chân tay thì mảnh khảnh, dáng vóc đã thấp bé lại còn gầy lẻo khoẻo.

“Cùng người lạ ngồi trên một chuyến đò, san sẻ chút bánh trái thức uống cho nhau chính là lễ nghĩa thông thường trong giao tiếp.” Nàng quay mặt lại nhìn với vẻ hiếu kì. Khóe môi chàng cong lên ý cười nhẹ, giọng sẽ sàng. “Giả sử có gói xôi nếp hay gói bánh nóng hổi thì bẻ đôi, còn nếu có rượu có trà thì mỗi người một chén, vậy là vừa đủ rồi.”

Nam Thanh lập tức hiểu ý, hỏi mượn hai cái chén đựng. Chén nhỏ làm bằng gỗ, màu nâu đỏ rất sẫm và được mài nhẵn nhụi bề mặt. Nàng vừa mở nắp bầu rượu, hương gạo nồng nàn đã dậy nồng. Rượu sóng sánh trong chén có màu trắng đục như sữa, dính dưới đáy một ít mẻ cơm nhão mịn. Dương Huyền kề cái chén nhỏ gần mũi để ngửi, đầu lưỡi chấm một tí rượu. Tiếng chàng thở dài rất khẽ. Dường như nhâm nhẩm điều gì đó.

“Mùi tuy thơm nhưng vị hơi nhạt. Cậu mua rượu này ở đâu?”

“Là tôi tự nấu đấy.”

“Tuổi còn nhỏ đã học thói hư tật xấu, lẽ nào mẹ cha ở nhà không rầy la?” Dương Huyền tự biết mình đang nói đùa. Thế mà, ánh mắt và giọng điệu của chàng lại vô cùng nghiêm khắc.

Nam Thanh rối rít xua tay: “Tôi không có uống rượu, không có học thói hư tật xấu. Tôi học nấu rượu vì thầy nhà thích uống ạ. Thầy bảo tuổi tôi còn nhỏ, đợi thêm vài năm nữa mới được chè chén thỏa thích với các anh các chị.”

Rượu trong cái chén nhỏ đang cạn dần, chàng húp mạnh ngụm cuối, tinh thần khoan khoái: “Mỗi việc học nấu rượu cũng không đến nơi đến chốn. Cũng không biết cậu nấu rượu cho ai. Người bình thường thích uống rượu cay, rượu đắng, để men say ngấm sâu vào máu thịt, Hồn người, hồn quỷ thì say mê vị rượu nhạt nhẽo như nước lã. Ờ thì, chắc là nhạt như chén rượu lạnh ngắt này đây.”

“Tôi nghe người ta kể rằng khi ngồi trên con đò lạ đi qua con sông lạ ở một nơi xa lạ, nhớ mang theo rượu thơm, hoa tươi, trái dại ngọt tặng cho những vong linh lang thang dưới nơi ấy. Ý là cầu bình an, để khi qua sông tránh được mọi hiểm nguy.”

Nghe vậy, Nam Thanh liền cười tít mắt, cầm lấy chén rượu tưới hết xuống sông. Nàng cho chàng thấy rượu nàng nấu thật chẳng phải cho người bình thường thưởng thức. Dương Huyền tặc lưỡi, nhìn nàng như một đứa ngốc làm đủ trò kệch cỡm.

“Mấy lời đặt điều vớ vẩn ấy chớ có tin.”

“Ngài không tin trên đời này có vong linh thật ạ?”

“Người đang làm trời đang nhìn, nhân quả báo ứng, đúng sai tại mình. Bóng quỷ, oan hồn lang thang ngoài kia, thật hư thế nào đâu có liên quan.”

Dương Huyền cười nhạt, chẳng buồn nói gì thêm. Nam Thanh phụ họa theo lời chàng trong sự gượng gạo.

“Nơi đây có quỷ, có vong, có hồn người khuất tất thật đấy! Không phải chuyện bịa đặt vớ vẩn đâu.” Những tưởng mấy câu nói ngấm ngầm chê bai sẽ làm lão bà kì lạ kia biết điều im lặng, an phận thủ thường [8] với nghề đưa khách sang sông. Nhưng vào lúc này, mụ ta lại đột nhiên lên tiếng, phá vỡ bầu không khí vốn đang yên bình.

Đôi bàn tay mụ sần sùi bao vết hằn chai sạn, cánh mũi to sưng đỏ như có thể chắt ra máu tươi, đôi mắt nua già đã rạn những dấu chân chim năm tháng. Mụ nhai trầu, nhuộm hàm răng đen bóng, tô bờ môi đỏ sẫm, nước bã trầu từ miệng chảy dài xuống cổ, lồng ngực, làm lem nhem vạt áo mỏng sền cũ.

“Già không nhớ chuyện bắt đầu tự bao giờ. Có lẽ mười năm, hai mươi năm trước, hoặc là lâu hơn thế. Đã từng, trên con sông này, người ta thấy cái xác trôi nổi của ả đàn bà mệnh khổ. Từ lúc ấy, xương cốt thành tro bụi, vong hồn lang thang thành quỷ dữ.”

“Thị ta chết vì điều gì? Khổ vì điều gì?” Dương Huyền hỏi.

“Thưa, chết vì tình, vì dại. Khổ vì tình, vì dại.” Mụ ta nhỏ nhẹ đáp, song cũng nhấn mạnh từng chữ.

Chàng vuốt ve chiếc kiềng ngọc bích trên cổ, vẻ nặng nề thoáng qua đáy mắt: “Có một số người, sống là khốn khổ, là đọa đày, là căn bệnh không thuốc trị. Vừa hay, chết mới là giải thoát.”

Khi bần thần nghe xong, Nam Thanh chợt nghĩ đến câu nói: Khát cầu sự sống là bản năng trời cao ban tặng. Có thể sống và được sống chính là ước muốn của bao người. Nếu được lựa chọn, có ai lại không muốn vui vẻ ngắm nhìn cảnh sắc tươi đẹp nơi trần gian.

Ắt hẳn là một câu chuyện buồn xé lòng đứt ruột. Xuất phát từ tính tò mò, nàng định hỏi cặn kẽ đầu đuôi. Nhưng khi thấy ý cười mỉa mai trong mắt mụ, nàng bất giác im lặng.

Khi chạm phải ánh mắt ấy, lòng Nam Thanh ran rát như bị muối xát mạnh vào. Một cảm giác trống rỗng kì lạ khiến nàng bàng hoàng không thôi.

“Cậu muốn nếm thử không? Trông có vẻ ngon đấy.” Đẩy đĩa xôi về phía nàng, Dương Huyền ôn hòa hỏi.

Vỗ lên cái bụng xẹp lép hơi cồn cào vì đói của mình, Nam Thanh bèn gật đầu trong vô thức. Nay mai đường đi còn dài, ăn nhiều thêm một chút để dưỡng sức lực cũng tốt mà. Kể ra người này cũng thật chu đáo. Nghĩ thông suốt, những đắn đo trước đó không còn nữa. Nàng kéo đĩa xôi lại gần, dùng đôi đũa xắn cuốn xôi thành từng miếng nhỏ, nhón miếng đầy thịt với nếp cuộn vào miệng. Tức khắc, chân răng bỗng nhói lên cảm giác ê ẩm, khoang miệng nóng rát, vị mặn chát lan rộng ở đầu lưỡi và cuống họng. Nam Thanh nhăn mặt, eo ơi, mùi vị của món này thật là… khó diễn tả thành lời.

Một suy nghĩ lạ lùng chợt hiện lên trong đầu nàng. Có lẽ nào, đây là nguyên do chăng? Nguyên do mà chàng không chịu rớ đến món ăn trên bàn. Dù cho vẻ ngoài đã được bài trí khéo léo, hương thơm nức mũi làm người thòm thèm. Cơ mà, chàng ta làm sao biết được?

“Lỡ ăn bậy bên ngoài chết vì dại cũng đâu oan.” Dương Huyền rót ít rượu vào chén, lưng tựa vào cạnh bàn thoải mái nhấm nháp.

Chú thích:

[1] Cau kiểng đỏ – Quả hạch dạng trái xoan, kích thước gần bằng quả cau thường, đường kính 1-2 cm, vỏ nhẫn bóng. Khi non màu xanh nhạt, khi chín màu đỏ tươi. Ra hoa tháng 2-6, quả chín tháng 5-8. (Nguồn tham khảo: Nguyễn Hoàng Nghĩa (2007), Át lát cây rừng tập 7, NXB Nông nghiệp, Hà Nội – Nguyễn Hoàng Nghĩa (2010), Át lát cây rừng tập 3, NXB Nông nghiệp, Hà Nội)

[2] Đậu cọc rào – Cây nhỏ cao 1-5m, cành to mẫm, nhẵn, trên có những vầu nổi lên do sẹo của lá, khi bị khía sẽ chảy ra một thứ nhựa mủ trắng. Lá đơn, xẻ chân vịt, chia làm 3-5 thuỳ nông, dài 10-13cm, rộng 8-11cm. Hoa màu vàng, nhỏ, cùng gốc, mọc thành chùy tận cùng hay ở nách lá, hoa đực mọc ở đầu các nhánh với cuống ngắn có khuỷu, hoa cái mọc ở giữa những nhánh, với những cuống không có khuỷu. Quả nang hình trứng, đen nhạt hay đỏ nhạt, lúc đầu mẫm, sau thành khô, dai nhẵn, mở theo ba mép. Hạt 3, có áo hạt, hình trứng dài 2cm, rộng 1cm, nhẵn, màu đen nhạt. (Nguồn tham khảo: Sadita.vn – Từ điển Thảo dược Việt Nam)

[3] Điếu bát – Làm bằng gốm hoặc sứ, hình tròn, đường kính bằng chiếc bát ăn cơm, dưới đáy có bầu đựng nước, được đặt trong chiếc bát có đường kính to hơn. Trên miệng bát có lỗ điếu gọi là nõ điếu (hay lõ điếu). Khi hút, thuốc được vê thành những viên tròn, đút vào nõ, bật lửa, châm vào thuốc và rít mạnh. (Nguồn tham khảo: Gomsubattrang.org.vn)

[4] Nữ huấn tam tự thư – 女訓三字書 (AB.22), hiện lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sách chữ Hán, khắc in chân phương rõ nét, chỉ có chính văn chữ Hán, không có dịch hay chú giải, không có thông tin về tác giả và niên đại văn bản. Ở trang 2a có kiêng húy chữ Hoa (華) viết bớt một nét sổ (theo lối kính khuyết nhất bút), cũng trang này không thấy kiêng húy chữ Thì 時, vì vậy văn bản này có thể khắc in trong thời vua Thiệu Trị (thân mẫu húy Hoa) chứ chưa đến thời vua Tự Đức (tên hồi nhỏ là Phúc Thì 福時), tức là khắc in trong khoảng 1840-1848. Sách gồm 218 câu 3 chữ có vần theo lối Tam tự kinh. Nội dung sách viết về những đức tính mà phụ nữ cần có. Ngoài những phẩm chất về công dung ngôn hạnh mà sách nữ huấn nào cũng có, thì đáng lưu ý là ở đoạn kết, câu 203-218 (tr. 9b-10a) có đoạn nói rằng phụ nữ cũng phải đọc sách để có hiểu biết, từ đó giúp quốc gia hưng vượng, phụ nữ cũng phải có trách nhiệm với đất nước. (Nguồn tham khảo: Blogspot Tuancuonghn)

[5] Dốt hay nói chữ – Ý nói kẻ dốt nát nhưng cứ tỏ ra hay chữ, dùng chữ nghĩa để chứng tỏ ta đây. Còn có câu: Dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng. Ý nói thà không biết gì còn hơn biết lơ mơ lại còn tỏ vẻ rồi nói những điều sai trái. Cũng tương tự như thế còn có câu: “Người chẳng có mẽ lại hay làm dáng”, “Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ” để chỉ trích kẻ đề cao mình. (Thành ngữ – Tục ngữ – Nguồn tham khảo: Đi tìm điển tích thành ngữ”. NXB Thông Tấn)

[6] Đẽo cày giữa đường – Câu thành ngữ này hàm ý chỉ kẻ hành động ngu ngốc, không có chủ kiến, luôn bị động nên hay thay đổi theo ý kiến người khác, cuối cùng chẳng đạt được kết quả gì. Còn có câu: Đồ ba phải Mười rằm cũng ư, mười tư cũng gật. (Thành ngữ – Tục ngữ – Nguồn tham khảo: Đi tìm điển tích thành ngữ”. NXB Thông Tấn)

[7] Xôi khúc – Bánh khúc hay xôi khúc, xôi cúc là loại bánh có nguồn gốc từ vùng đồng bằng Bắc Bộ, làm từ lá rau khúc (có hai loại là rau khúc tẻ và rau khúc nếp có khi còn được gọi là khúc Ông và khúc Bà, nhưng khi làm bánh, người ta thường chọn lá rau khúc nếp, bởi lá khúc nếp thơm ngon hơn nhiều), gạo nếp, nhân đậu xanh, thịt lợn mỡ. Bánh thường được làm vào mùa rau khúc – dịp tháng 2, tháng 3 Âm lịch. (Nguồn tham khảo: Wikipedia.org)

[8] An phận thủ thường – Chấp nhận, bằng lòng với số phận, với cuộc sống hiện có chỉ cốt sao có được sự yên ổn cho bản thân, không muốn hoặc rất ngại sự thay đổi, thường do thiếu chí tiến thủ, ngại khó khăn, gian khổ trong công việc, ngại va chạm với đời: phải vươn lên, không thể sống an phận thủ thường được. (Nguồn tham khảo: Đại Từ điển Tiếng Việt)