Slide 1
previous arrow
next arrow

14094-quyen-01-chuong-04

Quyển 01: Chuyện xưa ở Nam Quan.

Chương 04.

Lúc bấy giờ, con đò đã dừng lại bên cầu tre vắt ngang bờ, trong tiếng gió lớn thổi ngược về. Nam Thanh nghe thấy giọng hát ai như đang thỏ thẻ gần bên tai, khẽ khàng, êm ái. Nàng nhận ra đó là tiếng hát của một cô gái, âm điệu trong trẻo đầy da diết, tựa lời ru hời văng vẳng, man mác nỗi buồn mơ hồ. Thế nhưng, tiếng hát ấy đến trong bất chợt và cũng biến mất một cách nhanh chóng, giây phút quay lưng nhìn lại, không hiểu sao lòng dạ nàng cứ bồi hồi đến lạ. Cảnh vật xung quanh vẫn yên ả như vậy. Dòng sông chảy mạnh, đò nhỏ bập bềnh dưới cầu, cụ bà bỏm bẻm miệng tay khua mái chèo. Từ trên cao, tia nắng cuối ngày rọi sáng vào đáy mắt người thiếu nữ nhỏ bé.

“Chuyện mới tức thì thôi. Cụ có nghe thấy tiếng hát của cô gái nào không ạ?” Mười ngón tay bám vào thành tre dựng ngang, Nam Thanh rướn người nhìn xuống, lòng bàn tay vô ý đè lên sợi gai nhọn lộm cộm, dọc trên da thịt mấy vết cắt dài.

“Nước sông lạnh lắm mày ơi. Kẻ nào lại rảnh rỗi đến vậy, chạy đến nơi hoang tàn này để hát hò.” Mụ ta khôn lỏi là thế, hỏi một đằng trả lời một nẻo, nào có chịu ngồi xuống nói chuyện đàng hoàng với ai đâu.

Nam Thanh bật cười: “Chắc là nghe nhầm rồi… Thôi, cụ đừng để ý. Mà cháu xin biếu cụ quả dừa lấy thảo ạ. Đường xa nhọc quá, sức cháu yếu mang không nổi.”

“Biết mày đâu tốt lành gì, đồ đã vứt đi mới ném qua cho già này.” Mụ nheo mắt, vỗ khẽ vài cái lên quả dừa nằm dưới chân, gật gù bảo. “Vỏ dày mà nhiều nước thật, dừa ngon thì phải thế chứ. Nếu mày đã có lòng biếu thì già sẽ nhận vậy. Tất nhiên, già vẫn chỉ ưu ái cho những đồng vàng đồng bạc nặng túi.”

“Cho cháu hỏi, cụ sẽ ở đây đợi chúng cháu về chứ?” Nam Thanh nôn nóng nhìn ra sau, Dương Huyền đã đi trước mà không cần nán lại chờ. Dõi theo từ khoảng cách khá xa, nàng chợt nhận ra một điều, ấy vậy mà bóng lưng chàng thật cao lớn chững chạc. Vững vàng như ngọn núi cao, thay người phía sau chắn lấy bão giông.

“Khi nào bây muốn về tự khắc sẽ có cách thôi, nhà già còn bao việc dở dang, rảnh đâu ngồi đợi bọn mi mãi.” Mụ xẵng giọng đáp, không buồn ngẩng đầu. Dưới cặp mày cong dài là đôi mắt hấp háy ý cười. Đôi chân mụ gầy gầy, bàn tay cũng gầy gầy. Cái bóng phản chiếu mờ mờ trên mặt sông nhấp nhô, nhòa dần trong màn sương bạc mông lung.

Gió bỗng nổi lớn tự bao giờ, nhẹ nhàng lướt qua đầu liễu già xanh mướt, thổi vào tai từng tiếng xào xạc rất khẽ, trong không khí se lạnh còn vương mùi cỏ khô, mùi đất lầy ẩm ướt. Nam Thanh gỡ những lọn tóc rối mắc trên cổ áo, vội vã đuổi theo. Sau lưng nàng, chân trời đằng xa đỏ sẫm một vùng mây dài. Cụ bà tóc trắng, con đò nhỏ, rổ trầu tươi với thúng mía chín ngọt đã không còn ở chỗ cũ.

“Ngài đi chậm thôi, lỡ lạc mất thì làm sao.”

“Là do cậu quá chậm chạp, tâm trí cứ lửng lơ ở đâu ấy.”

“Tôi biết ngài có đôi chân dài rắn chắc như cây dừa vậy, đi nhanh hơn là chuyện bình thường, nhưng không thể vì thế mà khinh thường người có đôi chân ngắn như tôi.”

Chân dài như cây dừa… cách so sánh này cũng lạ thật, Dương Huyền nghĩ thầm.

“Nhớ để ý xung quanh, nơi này rất lớn không dễ tìm người đâu.” Chàng nghiêm trang dặn dò rồi thong thả bước tiếp. “Rừng sâu dễ có thú dữ, ta học võ từ nhỏ tất nhiên có thể ứng phó. Cậu thì khác, nhìn cơ thể lẻo khoẻo này xem. Lỡ gặp chuyện không may chắc chỉ còn vụn xương, chẳng đủ nhét kẽ răng cho chúng nữa là.”

Ôi trời! Cái miệng độc địa chuyên thốt lên lời xui xẻo. Nam Thanh ngán ngẩm lắc đầu, chân giẫm lên mấy viên đá nhỏ bên đường, biết là lời lẽ thiện ý nhưng cũng xỏ xiên người ta quá đấy.

“Tôi đến để tìm bạn, vậy còn ngài?” Nàng tới gần người bên cạnh, tỏ vẻ hiếu kì hỏi.

“Cậu nhìn đi. Một mảnh đất hoang vu rộng lớn, cây cối hàng hàng, nước sông lạnh lẽo, vách đá lởm chởm, nhạt nhẽo đến thế thì có gì hay ho để xem.”

“Vâng. Vậy ra ngài không phải khách đến tham quan.”

“Một ngôi làng nhỏ cạnh biển, quanh năm suốt tháng ngập trong mùi tanh của tôm cá. Hàng hóa bán ở chợ không xấu, héo, giập thì cũng kém về chất lượng. Còn mấy tên thợ rèn yếu ớt không rinh nổi cái thúng than, tay nghề non nớt cũng chẳng tới đâu. Các loại giấy bản mỏng lét, ẩm ướt mùi mốc. Đến cả thỏi mực bày trên kệ sách cũng vậy, dính đầy tro, màu mực nhạt và loãng như nước.” Dương Huyền không tiếc lời chê bai.

“Tôi hiểu rồi. Ngài đến làng này không phải bàn chuyện buôn bán.” Nam Thanh vỡ lẽ. “Cơ mà lạ thật. Thầy tôi đã một lần đến làng Đốc vào mấy năm trước. Ông khen ngợi hết lời về các thợ rèn trong làng, bảo họ không chỉ tài giỏi mà còn có đôi tay mạnh mẽ khéo léo, làm việc chăm chỉ lại nhanh nhẹn. Giấy bản làm bằng vỏ cây sồi, vỏ cây thông, bột gỗ, thơm nhẹ mùi gỗ hồng ngà. Là loại giấy tốt được gia công tỉ mỉ, dễ thấm nước, độ dày vừa phải. Mực thỏi bán ở làng có màu xanh đậm, chất mực mềm bám giấy còn thoang thoảng hương hoa nhài. Làng xưa thưa thớt nhưng tiếng tăm vang xa. Lời đánh giá của ngài thật khác với thầy tôi.”

Chàng lập tức đáp lại: “Thời gian sẽ làm mọi thứ thay đổi, nói không chừng nay đã sa sút nặng nề không còn vẻ vang như xưa.”

“Để tôi đoán thử nhé. Ngài đến đây tìm người quen ạ?”

“Không phải người quen, cũng chẳng phải bạn bè, là một người mà ta chưa từng gặp.”

“Khó thật đấy, không biết mặt mũi người đó ra sao thì biết đi đâu mà tìm.”

“Đâu chỉ có vậy, người mà ta muốn tìm còn là người đã chết từ rất lâu rồi, từ đầu đã khó mà giờ lại càng khó thêm.” Nói đoạn, như chỉ vô tình, Dương Huyền ngán ngẩm thở dài. “Cơ mà cũng đành chịu, ta đã lỡ hứa với người ta thì phải làm cho đàng hoàng.”

Câu nói ấy khiến Nam Thanh thất thần trong đôi lát. Và lởn vởn trong đầu nàng lúc này là mấy lời sau cuối chàng đã nói vừa rồi: Lỡ hứa với người ta thì phải làm cho đàng hoàng.

“Ngài nghĩ như thế đúng lắm. Nếu đã hứa với ai thì phải cố gắng thực hiện.” Nam Thanh gật gù tán thành. Những người biết giữ chữ tín luôn đáng được kính trọng. Dẫu lời nói của họ có gai góc, dữ dằn ra sao.

Giống như nàng vậy, chưa từng quên lời hứa với Hiền. Một ngày nào đó, khi được thầy cho phép, nàng sẽ tới thăm quê nhà của anh ấy. Đến Châu Nam Quan, tìm đến huyện Ngọc Sơn, bước vào làng Đốc, nơi Hiền đã sinh ra và lớn lên.

Họ bỏ lại phía sau một khoảng đường rất xa, bước chân vững vàng trên nền cát vàng rải đầy hạt đá trắng, ngoặt qua lối đi rộng cạnh mép triền dốc thẳng xuống dải đất xanh ẩm ướt rẽ vạc cỏ. Cánh rừng rậm lộng gió đã ở ngay trước mắt hai người. Hiu hắt, mênh mang một màu mạ già đất non. Con đường dẫn vào trong như cái hang sâu hoắm chực nuốt chửng mọi vật thể tới gần. Nam Thanh theo sau Dương Huyền, mắt nàng mở to cố gắng quan sát phương hướng và tai thì đang lắng nghe mọi động tĩnh có thể đột ngột xuất hiện. Mồ hôi nhơm nhớp túa ra thấm ướt áo nàng cũng đồng thời làm ướt ống tay áo của chàng. Tuy dựa vào bản năng dẫn dắt nhưng mỗi một bước đi của họ đều giữ vững kiên định. Từ bên ngoài, không khí lạnh lẽo tràn vào như khói dày phả mịt mù, xộc thẳng vào mũi, miệng, lấp đầy khí quản cơ thể. Nam Thanh ngẩng đầu lên nhìn, tay vỗ nhẹ lồng ngực, hít sâu rồi thở ra. Nắng chín giòn đã nhạt màu vàng rực đỏ sẫm, chỉ chừa lại vòm trời xám ngắt với những vầng mây thấp thưa thưa. Các tán lá tươi trên đầu cành rậm rạp cây to nom như hàng lưới dày bắt cá, chẳng mấy chốc đã trở thành chiếc bóng lớn, bao trùm tầm mắt nàng.

“Sao đột nhiên ngài lại đi vào rừng vậy?” Nàng cất tiếng hỏi khi đã đi qua nửa chặng đường.

“Linh cảm mách bảo nên ta làm theo thôi. Còn cậu thì sao? Đi theo ta làm gì?” Dương Huyền phủi bụi trên vạt áo, sau đó thong thả ngồi nghỉ dưới tảng đá mọc rêu nằm cạnh gốc cổ thụ cách không xa.

“Linh cảm cũng mách bảo tôi đi theo ngài ấy mà.”

Bàn chân trần giẫm lên lớp cỏ mềm với mấy viên đá vụn rải lẻ tẻ, Nam Thanh rướn người, treo cái túi nặng đồ lên cành cây cau. Nàng mang gương mặt phờ phạc, uể oải ngồi bệt xuống đất. Không ngờ là mệt đến vậy, tới mức tay chân run rẩy vì lạnh ngắt, giọng nói thì đứt quãng nghèn nghẹn. Họ băng qua mấy con đường dốc cao quanh co, lội vào rừng sâu hiểm hóc ẩm rét gió lớn. Thể lực không chỉ bị hao mòn qua từng giờ mà khắp người cũng chồng chéo không ít vết thương nặng nhẹ do cành gai đâm sát da thịt.

Bất chợt nhớ lại lời nói ban nãy của chàng, Nam Thanh vội hỏi: “Tôi nghĩ mãi cũng không hiểu, chuyện về người đã chết từ rất lâu đó có liên quan gì đến chỗ này vậy ạ?”

“Ta đi tìm mộ người đó. Một ngôi mộ hoang không tên.” Chàng rút ra chiếc quạt giắt sau thắt lưng, gõ nhịp nhàng vào lòng bàn tay. Khác với Nam Thanh có dáng vẻ mệt mỏi vì kiệt sức, sắc mặt Dương Huyền vẫn tươi tỉnh thoải mái. “Nếu tìm thấy thì đốt hương làm lễ viếng, thành tâm làm cỗ chay, dâng hoa tươi trà thơm. Kế đó sẽ khắc những dòng chữ mà ta nghĩ đến lên tấm bia đá dựng cạnh ngôi mộ ấy. Đây là tất cả yêu cầu của ông ta.”

Không một chút nghi ngại, chàng thẳng thắn kể rõ sự việc: “Ta đã thăm dò từ người dân trong làng, họ rỉ tai nhau suốt về mảnh đất hoang vu bên kia sông Cây Trầu, nơi mà không ai ở làng muốn lui tới. Nghe đồn đây là chỗ chôn cất những thi thể mục nát không biết tên họ, là chỗ dựng lên những ngôi mộ đổ nát không tên từ rất lâu.”

Nam Thanh đoán, “ông ta” trong lời chàng chính là người đã đưa ra yêu cầu đi tìm “ngôi mộ người chết”. Nghĩ cũng thật trùng hợp. Câu chuyện nàng từng kể cho ba anh em kia nghe cũng liên quan đến những thi thể mục nát và về những ngôi mộ đổ nát không tên.

“Không giấu gì ngài, từ mấy ngày trước, bạn tôi đã bị mấy kẻ lạ mặt bắt đi. Rồi hôm qua, vô tình nghe được lời đồn đại về nhóm người kì lạ qua sông lúc nửa đêm, dựa theo một số đặc điểm miêu tả, tôi nghi ngờ chúng chính là kẻ đã bắt giam bạn mình nên mới chạy đến đây xem sao.”

Dù mới gặp nhau lần đầu, Dương Huyền lại vô tư kể cho một người lạ như nàng nghe chuyện riêng tư mà đáng lẽ chàng nên cẩn trọng dè chừng. Khoảng cách xa lạ giữa hai người họ dường như đã được rút ngắn phần nào. Nam Thanh có thể cảm giác chân thật về sự gần gũi kì lạ đang len lỏi vào cõi lòng. Cũng từ nguyên do ấy, nàng đã thẳng thắn kể về chuyện của Hiền mà không cần đắn đo. Nghe có vẻ hơi lạ, mới ngày đầu quen biết, hai bên đã thân thiết gì đâu mà lại nói với nhau nghe những việc quan trọng như vậy. Nàng nghĩ, có lẽ đây chính là tình cảm giữa người với người, luôn phức tạp và mơ hồ.

“Gan cũng lớn đấy! Lỡ đâu là bọn chúng thì cậu đang đùa với hổ dữ.”

“Trời sinh tôi có máu liều, bảo là gan vàng dạ sắt [1] cũng không hề nói quá đâu.” Đôi mắt nàng cong cong, môi điểm ý cười rạng rỡ.

Tựa tiếng thở dài sầu não, chàng thều thào như bâng quơ: “Ta lại thấy miệng hùm gan sứa [2]. Chuột nhắt lại đọ sức trâu.”

Chiếc quạt xếp gỗ hương trong tay Dương Huyền được mở ra nhẹ nhàng. Họa tiết cành mẫu đơn hóa rồng [3] vẽ trên mặt giấy quạt vô cùng tinh xảo, tỉ mỉ. Đặc biệt, nền trắng mộc mạc làm nổi bật những đường vẽ uốn lượn sống động, kết hợp cùng phong cách điểm xuyết màu nước nhẹ nhàng, mười hai hạt ngọc xanh lam trên nhụy mẫu đơn càng thêm lấp lánh, sáng loáng như thật. Phía sau mặt cánh quạt, từ vị trí dọc bên trái là hàng chữ ngay ngắn thẳng tắp nối nhau, đường nét viết cứng rắn mạnh mẽ, uy nghi không thiếu phần.

“Thế biết ba cõi chỉ một tâm

Tâm có đại lực sinh thế giới

Tự tại hay làm chủ biến hóa

Tưởng ác, tâm thiện lại tạo tập

Quá, hiện, vị lai, nhân sinh tử

Nương tựa vọng nghiệp tạo thế gian

Ái, phi ái quả thường tương tục.” [4]

Nhẩm khẽ trong miệng bảy câu trên chiếc quạt, Nam Thanh không khỏi kinh ngạc.

“Tâm địa quán kinh [5] – Phẩm Quán Tâm. Bài giảng của Bạch Đức Thế Tôn [6].” Hai bàn chân dính đầy bùn chà lên lớp lá chuối già, rồi Nam Thanh đứng dậy, rời khỏi chỗ đang ngồi. “Nếu đây là chữ ngài viết thì quả là tài hoa hơn người. Nếu ngài thành tâm với cửa nhà Phật thì chính là người quân tử có phẩm cách hiền lương đáng quý. Đương nhiên, trước đó ngài đã là người quân tử hào hiệp nhân nghĩa, thần thái sáng chói tựa vầng dương, cốt cách đẹp như ngọc như hoa.”

Vốn đã quen lời nịnh nọt bên tai, cơ mà hiếm ai thẳng thừng ca ngợi chàng bằng thái độ vồ vập mà tự nhiên như người này. Dương Huyền nghĩ bụng, mồm mép lanh lẹ như bôi mỡ, như thoa mật, đến người nghe cũng phải ngượng ngùng thay kẻ nói.

“Xem ra cậu cũng biết không ít thứ hay ho. Vậy nhóc có nhận ra hàm ý ẩn giấu trong từng nét chữ ta đã viết không?” Dương Huyền phe phẩy quạt, cười nhẹ.

Thoáng chốc, chuyện xưa bỗng ùa về tâm trí. Nam Thanh đã thấy hình ảnh về một đứa trẻ nghịch ngợm thường chạy lăn tăn khắp nhà. Mỗi buổi chiều, nó ngồi lù khù trước bàn học với chồng sách dày cộp đặt hai bên, đầu cúi thật thấp, tay siết lấy cán bút lông, miệng lẩm nhẩm chữ. Đằng sau, người thầy nghiêm nghị quắc mắt, bao lần lớn tiếng răn dạy đứa học trò nhỏ khù khờ lười biếng. Khi cơn giận dữ đạt đến đỉnh điểm, người lại dộng mạnh cây thước gỗ xuống mặt bàn. Đứa trẻ lập tức rụt cổ vì sợ hãi, môi nó mím chặt, ruột gan lộn lạo cả lên. Dù đang bị thầy phạt, nó vẫn len lén hé mắt, nhìn về phía cửa sổ với tâm trạng thấp thỏm và háo hức. Bởi vì ngoài đó, trong góc sân rộng lớn, có mảnh vườn rau nhỏ, cây đào tươi chín mọng, bụi hoa thơm ngát, và chiếc ghế tre dưới bóng râm cổ thụ đã ngoài trăm tuổi đời. Nơi mà đứa trẻ xem là của quý vô giá. Nơi mà đứa trẻ đã chân thành gửi gắm, cất giữ bí mật thầm kín.

Cũng không biết từ khi nào, hồn nàng đã trôi dạt theo những hồi ức mơ hồ của lúc xưa. Tự nhiên, Nam Thanh thấy lòng mình thật nhẹ nhàng. Tất cả sự bức bối và lo lắng trước đó đều không cánh mà bay. Thú thật, đứa bé ấy chẳng hề thích chuyện học hành. Nó có thể học thuộc lòng các bài thơ dài dằng dặc trong sách, thế mà lại không có đủ năng lực để thấu hiểu hàm ý đặc biệt với cả ý nghĩa sâu xa trên những con chữ đẹp đẽ ấy. Thành ra, từ trước đã vậy thì bây giờ vẫn vậy. Bản tính lì lợm nhất và đầu óc luôn chậm chạp nhất.

“Hồi nhỏ, mỗi lần phạm lỗi, thầy hay phạt tôi chép kinh và đọc thuộc lòng những gì đã viết. Trong số sách tôi đã chép, xem nhiều nhất là kinh Tâm Địa Quán.” Nam Thanh ủ rũ cúi đầu, ăn ngay nói thật. “Thầy tôi từng dạy, đọc cái gì, viết cái gì cũng phải tự mình tìm, ngẫm, hiểu các chi tiết, ý nghĩa, dụng ý quan trọng. Chỉ đáng tiếc, trời sinh tôi không đủ trí thông minh càng không có bản lĩnh tài giỏi như người khác cho nên mới mãi không thể tiến bộ.”

“Nói thẳng ra là, có đọc, có nhớ, cơ mà chẳng hiểu gì cả.” Lời sau cùng, nàng nói rất nhỏ trong miệng, cũng không biết chàng có nghe thấy hay không.

“Chép kinh đã nhiều năm mà vẫn không ngộ ra được một phần đạo lí trong sách. Dốt nát trời cho cũng không thể tệ hại đến nhường này.”

Bằng một cái nhướng mày giễu cợt lại thêm đôi lời châm chọc chẳng e ngại, theo lí mà nói, Dương Huyền đã làm người đối diện phải tái xanh mặt mày vì giận dữ. Nhưng không ngờ rằng, Nam Thanh thể hiện thái độ vô cùng bình tĩnh. Đôi mắt mở to với vẻ ngạc nhiên, không có cảm xúc xáo động nào dù chỉ nhỏ nhất trên gương mặt. Nàng im lặng cúi đầu, các ngón tay vô thức đan lại với nhau, bụng dạ cứ rối rắm mải.

Nghĩ cũng lạ thật, tự nhiên lại bị mắng là thứ dốt nát tệ hại. Lẽ nào không thích đọc sách cũng là cái tội lớn đáng trách? Nam Thanh trề môi nghĩ.

Trong phần Mười Quán Tâm của kinh Tâm Địa Quán. “Tâm” được nhắc đến như một câu hỏi khó có lời giải nghĩa chính xác. Chúng sinh thắc mắc, tâm từ đâu mà ra, tâm sinh ra vì điều gì; thế nào là tâm trong vạn vật, thế nào là tâm trong vô vàn cõi hư vô. Và vì sao, Tâm trong trời đất lại là gốc rễ sinh ra Lục dục [7]. Rồi người giở trang kinh, tại phẩm Quán Tâm, xem về “pháp tâm” và “đạo tâm”, ngẫm về lời Đức Phật đã dạy: Người quán được tâm thì giải thoát nhanh chóng; người không quán được tâm thì mãi chìm sâu trong sự trói buộc.

Phải chăng vì tâm chàng ta đang nhiễu loạn bất định nên mới cần thấu rõ đâu là tâm?

Nam Thanh cứ nhìn chăm chú chiếc quạt xếp trong tay Dương Huyền. Nàng nói, đa phần người thích dùng quạt đều lựa chọn những bức tranh mang vẻ đẹp thanh tao mà nhẹ nhàng, như là phong cảnh sông núi vẽ bằng một màu mực hay các loại tranh dân gian đang phổ biến, Thập vật [8], Kim Hoàng [9], Hàng Trống Lý ngư vọng nguyệt [10]. Song hiếm có người dùng quạt gỗ lại trang trí họa tiết cổ như chàng, còn là họa tiết cành mẫu đơn. Vì theo quan niệm từ một số người, quạt xếp là vật tượng trưng cho nét đẹp cao quý trang nhã, gắn liền với hình ảnh và phong thái thanh cao người Nho sĩ [11]. Trong khi đó, mẫu đơn lại được người đời ví von là dung nhan diễm lệ của người phụ nữ, một vẻ đẹp rực rỡ tỏa sáng giữa nhân gian rộng lớn. Hai thứ này có sự chênh lệch rất xa, tương phản như Trăng và Trời. Vì vậy, dù mang lại màu sắc đẹp đẽ khi đặt cạnh nhau thì cũng không phủ nhận sự khác biệt quá rõ ràng từ đôi bên.

Khi thốt lên mấy lời này, Nam Thanh đang ngồi bệt xuống đất với tư thế thoải mái tựa lưng vào mặt tảng đá, duỗi thẳng hai chân cùng hai tay, đầu ngẩng lên. Mái tóc của nàng búi cao, cố định bằng chiếc trâm gỗ giắt ngang, rủ bên cổ vài lọn tóc dài. Đôi mắt nàng đen láy trong trẻo, hàng mày dài cong cong, cánh môi ươn ướt mềm mại. Nhìn chung thì vẻ ngoài không quá xuất chúng. Có thể nói ưu điểm lớn nhất ở phần diện mạo là ánh mắt sáng có thần, cái mũi cao dọc, nước da trắng trẻo và đường nét thanh tú. Nhưng mà nhỏ con quá. Người đã gầy yếu lại còn lùn tịt nữa. Thấy sao cũng như cây nấm ấy. Ắt hẳn không thể đứng ngang hàng với bạn bè cùng lứa tuổi. Sau khi nghiền ngẫm đánh giá lần thứ hai, Dương Huyền bèn tắc lưỡi một tiếng bày tỏ sự thương tiếc.

“Lòng người vốn phân chia đủ loại, hôm nay thích, ngày mai lại ghét, vốn là chuyện thường tình. Ta thích những thứ hỗn tạp, khó hiểu trong mắt người đời. Tuy nhiên, nếu một ngày nào đó, những thứ ấy bỗng trở thành điều bình thường trong mắt người khác, sự yêu thích của ta sẽ chẳng còn được như xưa.” Một tay Dương Huyền chống cằm, một tay còn lại phe phẩy quạt. Dáng vẻ lúc này của chàng nhìn thật ung dung tự tại. “Còn về bảy câu trong Tâm địa pháp, nói đơn giản thì cũng chỉ là mấy lời thường răn dạy dành cho người tu hành. Trong khi đó, với mấy kẻ phàm tục ngu muội, đọc không hiểu, xem không rõ, ngẫm chẳng ra. Dù có viết, có đề chăng nữa cũng chỉ để vui thôi. Giống như ta chẳng hạn, nào có hiểu gì đâu.”

Nam Thanh bật cười bảo: “Hồi nãy đến giờ, tôi với ngài cứ nói mải rồi nói mải một việc. Cuối cùng mới biết, một người thì trời sinh đã tầm thường dốt nát, người còn lại, kẻ khờ ngu muội chẳng thể thấy rõ bất cứ chuyện gì trên đời.”

Suy cho cùng, vẫn là Kẻ tám lạng, Người nửa cân.

…

Sắc trời đêm nay có vẻ âm u lạ thường. Không khí đặc quánh sẫm lại một màu xám ngắt nặng nề.

Vầng trăng khuất sau rặng mây dài. Những đốm sáng mờ ảo đang vụt tắt. Trời chẳng nổi giông nhưng lại rét buốt thấu xương.

Nam Thanh chợt nghĩ đến câu nói vô cùng phù hợp vào thời điểm lúc này: Ngày xấu ắt có điềm chẳng lành, không thích hợp việc ra ngoài, không thích hợp việc tìm người. 

Chỉ khổ nỗi, đã tốn sức đến đây một chuyến thì sao nàng cam tâm mang tay không trở về?

Ở đằng xa, hàng cây rậm rạp cao ngút, con dốc lớn với những khúc rẽ quanh co. Lại một lần nữa, một con dốc khác xuất hiện sau khi hai người họ vừa băng qua một con dốc cũ phía sau. Cũng giống mấy lần trước, mỏm đồi xanh mướt nhô cao, dãy núi đen thâm thấp, cây sung già chi chít quả, sương khói mịt mù. Con đường ngày càng gập ghềnh và xa xôi hơn, cứ như thể nó sẽ trải dài đến tận cùng khu rừng.

Chặng đường leo lên các tuyến dốc cao không hề dễ dàng. Địa thế xung quanh quá mức hiểm trở. Trước đó, những khối đá lớn lởm chởm hay lăn xuống từ đỉnh dốc, liên tục va mạnh vào gốc cây bên đường, kéo theo vô số cát bụi dày đặc. May mắn là hai người họ đã kịp thời chạy thoát nên không ai bị thương nghiêm trọng. Vì để tránh gặp phải tình cảnh nguy hiểm tương tự, Nam Thanh và Dương Huyền đã nhiều lần vòng qua những con đường nhỏ khác nhau. Nhưng kết quả đều thất bại. Theo lời Nam Thanh, mấy con dốc ấy như có hàng ngàn đôi mắt tàng hình, họ đi đến đâu thì nó sẽ theo tới đó, cố gắng lẩn trốn đến đâu cũng chỉ vô ích. Nàng còn sẽ sàng bảo, đáng lẽ mình nên tinh ý hơn, chuẩn bị thêm nhang đèn, đồ mã cúng bái mới phải. Nghe vậy, Dương Huyền chỉ liếc mắt cười khinh, chẳng buồn trả lời.

Đúng là cái số lận đận. Chẳng hiểu sao chàng lại đi chung với một kẻ nói năng khùng điên thế này.

“Ngài đi tìm người đã chết, còn tôi thì đi tìm người còn sống. Lặn lội từ xa đến đây chung quy cũng vì tìm người. Chi bằng hai ta cùng đi với nhau để trên đường có bạn có bè cho vui. Nếu không may gặp hiểm nguy, chí ít cũng có người thật tâm giúp đỡ.”

Khi Dương Huyền đang mải cằn nhằn bao chuyện xúi quẩy đã gặp phải trên đường, cái người mồm mép liến thoắng đi bên cạnh chàng đã dõng dạc nói thế đấy. Với vẻ mặt tự tin, giọng điệu hùng hồn đầy hiên ngang, khí thế mạnh mẽ có thua gì lính nhà đánh giặc.

Cũng không biết đến lúc đó, là ai bảo vệ ai, là ai giúp đỡ ai đây? Dương Huyền thầm mỉa mai trong lòng.

Chiếc túi vải trong tay Nam Thanh phồng to như quả bóng, bên trong đựng đầy các loại trái dại nàng đã lượm lặt trên đường, nhồi nhét nhiều nhất vẫn là mấy quả sung con con. Nàng thích vị ngọt nhẹ trong thịt quả và cảm giác giòn mềm khi nhai trong miệng, nên ăn bao nhiêu cũng không thấy ngấy.

Có điều, ăn một mình thì chán lắm. Nghĩ ngợi một hồi, Nam Thanh bèn chia một ít cho người bạn hiền đang đồng hành cùng nàng. Dương Huyền khiên cưỡng nhận lấy, động tác vụng về bóc vỏ lại không may dùng quá sức bóp nát cả phần thịt quả. Nước quả sung chảy ra dính hết vào lòng bàn tay. Rin rít, nhỏ giọt xuống tay áo. Chàng nhăn mặt, lập tức vứt hết xuống đất.

Ngón tay chỉ vào túi, thẳng thừng nhắm ngay một quả sung to nhất. Dương Huyền hất hàm, nói như ra lệnh: “Ta muốn ăn quả này. Cậu bóc vỏ đi.”

Một tiếng thở dài ỉu xìu, Nam Thanh chỉ còn biết ngao ngán lắc đầu.

Người đâu mà khó khăn thế không biết. Hay vì là cậu ấm được nuông chiều trong nhà nên mới ngơ ngác mấy việc này?

Nàng lấy một quả sung khác trong túi, chà sơ sơ lên vạt áo, ngắt bỏ phần cuống rồi há mồm cắn một miếng lớn.

Đã thấy rõ chưa, cần gì bóc vỏ đâu nào? Ăn sung tươi phải ăn cả vỏ lẫn ruột mới ngon chứ!

Dương Huyền tức đến mức bật cười thành tiếng, nói gọn lỏn chỉ hai câu: “Không thích bóc vỏ. Không thích ăn vỏ.”

Chú thích:

[1] Gan vàng dạ sắt – Gan dạ, dũng cảm, không nao núng trước bất kì khó khăn nguy hiểm nào: “Ông ta chẳng phải tay gan vàng dạ sắt gì, hoá ra miệng hùm gan sứa, trớ trêu thật.” (Thành ngữ – Tục ngữ – Nguồn tham khảo: Đại Từ điển Tiếng Việt)

[2] Miệng hùm gan sứa – Bề ngoài ăn nói mạnh bạo, hùng hổ, quả cảm nhưng trong bụng, trong lòng thì nhút nhát, run sợ: Mới năm lần đọ súng với quân thù mà các ông đã vội kiếm cớ rút lui rồi đấy, tôi là tôi chán cái người miệng hùm gan sứa. (Thành ngữ – Tục ngữ – Nguồn tham khảo: Đại Từ điển Tiếng Việt)

[3] Cành mẫu đơn hóa rồng – Họa tiết trang trí trong mỹ thuật An Nam. Hình ảnh và tranh minh họa được sưu tầm từ tác phẩm Les Motifs de l’Art Annamite của tác giả L. Cadière. (Nguồn tham khảo: Bài dịch chi tiết từ Đức Chính – Blog WP khanhhoathuynga)

[4] Câu gốc: 是知三界唯一心,心有大力世界生,自在能為變化主。惡想善心更造集,過現未來生死因,依止妄業有世間,愛非愛果恒相續。– Trích từ Tâm địa pháp (54 câu) trong Tâm Địa Quán Kinh – Hồi thứ Mười – Phẩm Quán Tâm. (Bản dịch của Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh) 

[5] Tâm Quán Kinh – Kinh Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán (大乘本生心地觀經) Gồm 8 quyển, do ngài Bát nhã dịch vào đời Đường. Gọi tắt: Bản sinh tâm địa quán kinh, Tâm địa quán kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 3. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Thích ca Như lai, lúc ở núi Kì xà quật, đã nói cho các vị Đại bồ tát như ngài Văn thù sư lợi, Di lặc v.v… nghe về việc người xuất gia ở nơi A lan nhã phải quán xét tâm địa như thế nào để diệt vọng tưởng mà thành Phật đạo. Kinh này được chia làm 13 phẩm: Phẩm Tựa, phẩm Báo ân, phẩm Yếm xả, phẩm Vô cấu tính, phẩm A lan nhã, phẩm Li thế gian, phẩm Yếm thân, phẩm Ba la mật, phẩm Công đức trang nghiêm, phẩm Quán tâm, phẩm Phát bồ đề tâm, phẩm Thành Phật và phẩm Chúc lụy. (Nguồn tham khảo: Phatgiao.org.vn)

[6] Bạch Đức Thế Tôn – Một tôn hiệu khác rất hay được dùng để chỉ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. (Nguồn tham khảo: Bbc.edu.vn)

[7] Lục dục (六欲) – Sắc dục: ham muốn nhìn thấy sắc đẹp. Thinh dục: ham muốn nghe âm thanh êm tai. Hương dục: ham muốn ngữi mùi thơm dễ chịu. Vị dục: ham muốn món ăn ngon miệng. Xúc dục: ham muốn xác thân sung sướng. Pháp dục: ham muốn ý nghĩ được thỏa mãn. (Nguồn tham khảo: Hoavouu.com)

[8] Thập vật – Loại tranh phổ biến trong các chùa vùng Bắc Bộ trước những năm 1960, thể hiện nét tâm linh một thời của người Việt. Thường nép mình trong khổ nhỏ, chỉ rộng khoảng bằng 1-2 bàn tay. (Nguồn tham khảo: Suckhoedoisong.vn) 

[9] Kim Hoàng – Tên thường gọi của một dòng tranh dân gian phát triển khá mạnh từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 19 của làng Kim Hoàng, xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây cũ, nay là Hà Nội. (Nguồn tham khảo: Wikipedia.org)

[10] Lý ngư vọng nguyệt – Dịch ra chữ Quốc ngữ là Cá chép trông trăng, là tiêu đề của một bức tranh dân gian Hàng Trống nổi tiếng. Bức tranh mô tả một con cá chép đang ngắm nhìn hình ảnh bóng trăng dưới đáy nước. Hình tượng cá chép trong tranh kết hợp với một hình tượng qui ước làm nên tính minh triết của bức tranh. (Nguồn tham khảo: Wikipedia.org)

[11] Nho sĩ – Người học Khổng giáo và thuộc tầng lớp trí thức trong xã hội phong kiến. (Nguồn tham khảo: Từ điển – Nguyễn Lân)