Slide 1
previous arrow
next arrow

6660-ix-manh-toi

 

“… Thời Đinh (968-979), nhà vua chính thức phân chia lãnh thổ thành các Quang Châu (nay là Mảnh Sáng) và Vĩnh Châu (nay là Mảnh Gương). Quang Châu lớn nhất khi ấy thuộc về tộc người Thổ Điểu, sinh sống quanh lưu vực sông Hồng, tức thành Đại La (nay là địa danh Mảnh Gương gọi là Hà Nội).

Người ở đây đặc biệt chăm chỉ học hành, làu thông kinh sử, lại yêu thích khoa học. Cũng chính là tộc người đầu tiên chế tạo ra Đốm Hạc. Cuốn Phong Châu Du Ngoạn của sử gia người Trung Quốc đời Đường, Đỗ Nhượng Năng, có chép: ‘Tộc ấy rất thích đọc sách. Coi và cất giữ sách như báu vật. Kho sách lớn của trưởng tộc chứa nhiều sách quý sưu tầm từ đời này qua đời khác, còn cử người đi khắp các nước, cũng chi rất nhiều tiền mà mua, mà sao chép lại…’

[…] Năm Thuận Thiên thứ Nhất (tức năm 1010), Lý Thái Tổ rời đô về Đại La, đặt tên là Thăng Long. Quan hệ hòa hảo với tộc trưởng Thổ Điểu rất tốt, đồng ý đặt tên Quang Châu này là Thăng Long, do vị trí địa lý trùng với Thăng Long do vua cai trị. Nhưng gọi là Quang Thăng Long để phân biệt với Vĩnh Thăng Long của vua. Quang Thăng Long (sau này là Kinh Thành) vì đó mà trở nên sầm uất, thịnh vượng. Giao thoa văn hóa sĩ phu cũng khiến người Thổ Điểu ngày càng coi trọng sách vở, tập trung nghiên cứu, học tập.

[…]Năm Thiên Ứng Chính Bình thứ ba (tức năm 1240), tộc trưởng người Thổ Điểu, Lê Minh, cho thành lập thư viện Đại Việt Nhất Tông Viện, đặt ở phía Nam của Kinh Thành, làm nơi giao du, học tập cho các học giả, sĩ tử trên khắp cả nước. Nhà sư Cao Ly là Myo Cheong (Diệu Thanh) từng viết: ‘Học thuật xứ ấy gần như tới mức cao diệu. Toán học, Địa lý học, Thiên văn học, Sử học, thứ nào cũng có người làu thông. Dân lại rất ham học. Từ ngoài phố tới trong các cửa tiệm, đâu đâu cũng có thể nghe tiếng bàn luận kinh sử, đàm đạo khoa học sôi nổi.’

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản lưu hành trong Mảnh Sáng, thì chép: ‘…Quân đội Thăng Long thiện chiến, lại áp dụng nhiều phát minh tiên tiến, biết sử dụng nội khí kết hợp với vũ khí như tên, nỏ, sức công phá mạnh hơn nhiều lần. Thăng Long Tứ Trấn, bốn vị mãnh tướng bảo vệ Thăng Long, cũng vang danh trong thiên hạ…’

[…] Người Kinh Thành quả thật đã sớm biết sử dụng khoa học vào trong canh tác, sản xuất cũng như trong chiến đấu để tăng hiệu quả công việc. Từ thời nhà Lý (1010-1226), đã thịnh hành hình thức ‘du học’, tức các Quang Châu đưa người tới Kinh Thành để tu nghiệp, học hỏi công nghệ.

Tới năm Thiệu Bảo thứ Năm (tức năm 1282), khi vua Trần Nhân Tông thống nhất các Quang Châu dưới sự lãnh đạo của Thăng Long, Kinh Thành chính thức nắm vị trí độc tôn trong các Mảnh Sáng.”

– trích ‘Kinh Thành – Một Thời Đại’ của Đào Duy Minh, 1962 –

 

***

Vị trí độc tôn khi đó, không ai có thể ngờ tới ngày tàn vong.

Thế thời thay đổi, khoa học và ảnh hưởng của ‘sự văn minh’ từ văn hóa Tây phương khiến con người Kinh Thành đắm mình trong dòng chảy của những cái mới. Chẳng ngờ tới lúc bị hòa tan. Dòng người nhập cư ồ ạt từ các tỉnh thành cũng khiến người Kinh Thành dần quên đi bản sắc của chính mình. Con người, thiên nhiên, đất trời không còn dung hòa với nhau nữa. Các linh vật cũng chẳng còn tới bên nôi của những đứa trẻ mới chào đời. Người Kinh Thành dần quên đi sự phồn hoa một thời của họ. Những dòng họ cuối cùng mang ánh sáng từ chốn kinh kì hoa lệ năm nào trôi dạt về các Mảnh Sáng khác. Họ bắt buộc phải sống cuộc đời khép kín, giấu nhẹm đi gốc gác của chính mình nếu như không muốn chịu sự miệt thị, khinh rẻ của hàng xóm láng giềng. Những người ở lại nuôi giấu ánh sáng ngàn năm ấy, không truyền lại cho đời sau, để rồi cứ thế chìm vào quên lãng.

Kinh Thành từ đó mà lịm tắt.

Sự phát triển mạnh mẽ của Ngọn Sáp khi ấy trong vai trò của một Viện Hàn Lâm uy tín chất lượng với kho tàng kiến thức đồ sộ và đội ngũ học giả xuất sắc đã khiến Lũng Mây nghiễm nhiên trở thành kẻ kế thừa vị trí đứng đầu các Mảnh Sáng. Nhưng người Lũng Mây vẫn không bao giờ quên được ánh sáng của Kinh Thành năm xưa, vẫn không ngừng đổ lỗi cho thế hệ người Kinh Thành đã đánh mất đi Mảnh Sáng cường thịnh nhất trong lịch sử.

Tới bây giờ, vẫn có rất nhiều người Lũng Mây, đặc biệt là các thế hệ về trước, coi người Kinh Thành như tội đồ thiên cổ, nói nặng lời là những kẻ đã ‘bôi bẩn’ lịch sử các Mảnh Sáng. Người độc miệng gọi Kinh Thành bằng cái tên ‘Mảnh Tối’, còn người Kinh Thành trở thành các ‘Vệt Tối’.

“Thế… thế quái nào…” Đăng Minh lắp bắp. Càng nghe càng thấy huyết áp như đã lên tới quá đầu. Nó giận run người, câu chữ cũng vì thế mà có phần lộn xộn: “Tức là… tức là em vừa bị… em bị… em bị… tức là… một cái lí do ngu xuẩn… không tí liên quan…”

Mặt nó cứ thoắt xanh rồi lại đỏ, rồi lại tím tái. Nó nhận ra những gì mình nói ra không có nghĩa, nhưng cơn giận khiến nó uất tới mức nghẹn. Hai bàn tay nắm chặt, hàm răng nghiến vào nhau những tiếng ken két, Đăng Minh hít thở sâu vài lần, cố gắng hạ hỏa. Nhưng giọng nói vẫn lạc cả đi: “Cái gì… cái gì…vừa phải thôi…cả trăm năm trước rồi… Liên quan gì…”

Thấy câu chữ dài dòng không có tác dụng, nó chuyển qua nói một loạt ‘từ khóa’, cứ như đang hô khẩu hiệu đả phá phe đối lập:  “Vơ đũa cả nắm… phân biệt vùng miền… đổ lỗi cho thế hệ hiện tại vì lỗi lầm của quá khứ..”

“Còn… còn chị?” chửi rủa cả tràng vẫn không hả giận, Đăng Minh hằm hè quay sang nhìn chị bác sỹ, mặt mũi đỏ au, các mạch máu hai bên trán giật liên hồi, khác hẳn với hình ảnh lịch lãm thường ngày. Hẳn là cơn giận đã khiến nó mù: “Chị thì sao?… Biết em là …là … cái gì mà…Vệt Tối… trong lịch sử, chị đã thấy hối hận vì đã giải cứu em chưa?”

“Em bình tĩnh lại đi,” chị bác sỹ vẫn không hề biến sắc trước quả bom sắp nổ là Đăng Minh. “Chị vào cửa hàng đó trước em, chị chứng kiến từ lúc mấy lão say gây sự với em cơ. Đến giờ này em cũng nên biết chị là bạn chứ không phải thù đi chứ?”

Đăng Minh chưng hửng. Nhưng cơn giận không vì thế mà tự động tan biến, nó xẵng giọng: “Chị cũng là người Lũng Mây còn… còn gì? Lẽ nào … lẽ nào chị không bao giờ suy nghĩ như họ?”

“Chị là người Lũng Mây, sinh ra lớn lên ở Lũng Mây,” chị bác sỹ điềm tĩnh trả lời, nét mặt chị đanh lại. “Nhưng là người Lũng Mây thì sao? Em đang tính ‘vơ đũa cả nắm’ luôn những người Lũng Mây như chị đấy à?”

Tới đây thì Đăng Minh câm nín hẳn. Nó nuốt nước bọt, dường như cố gắng nuốt trôi luôn cả cơn giận vô lý tới bẽ bàng của mình, bối rối: “Em… em không có ý đó, chỉ là… chỉ là…”

“Ở đâu cũng vậy thôi, có người này người kia mà em…” chị bác sỹ thở hắt ra, tiếp tục mềm mỏng như trước, ánh mắt chị trở nên xa xăm. “Có người sẽ chẳng bao giờ nhìn qua được những thứ phù phiếm như nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội đâu…”

Không hiểu vì lí do gì, Đăng Minh tự dưng thấy nhột. Nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, chẳng phải những thứ nó vẫn luôn đem ra rêu rao với thiên hạ đó hay sao? Rằng nó là con nhà gia giáo, có học thức, rằng nó là trẻ con phố cổ, là người ‘Hà Nội gốc’. Không ngờ cái ‘gốc’ ấy lại có ngày đẩy nó xuống tận đáy của nấc thang xã hội ở Lũng Mây như thế này. Bất giác, Đăng Minh cười khan một tiếng.

“Em làm sao thế?” Giọng nói trong trẻo của chị bác sỹ làm Đăng Minh giật mình. Nó ngước lên nhìn chị, lơ đãng dạ. Cố gắng che giấu sự cay đắng trong phút chốc, Đăng Minh hỏi trớ đi: “Không …không có gì đâu chị… Hôm nay trong tuần mà chị không phải đi làm ở bệnh viện ạ?”

“Chị nghỉ việc ở bệnh viện rồi,” chị đáp gọn ơ. Đăng Minh một lần nữa chưng hửng.

Rồi các sự kiện như tự động xâu chuỗi lại trong đầu, Đăng Minh bật ra: “Khi nãy, bà cô chủ tiệm văn phòng du lịch có nói khách hàng trước em là một cô gái trẻ đeo kính… cũng thuê xe một chiều tới Mảnh Gương… Chính là… chính là chị?”

Chị bác sỹ ngạc nhiên cười, ánh mắt hiếu kì pha chút thích thú: “Chà, không ngờ em thông minh thật đấy!”

Lời khen vô tình khiến Đăng Minh hoang mang hơn nữa, nó ngơ ngác: “Tại sao… tại sao chị lại thuê xe một chiều? Chị không muốn ở lại Lũng Mây nữa ạ? Chị định… chị định bỏ nhà đi đâu?”

“Chị không muốn làm việc ở bệnh viện nữa,” chị bác sỹ đáp, gương mặt u uất như ẩn chứa nhiều tâm sự. “Chị muốn đi chữa bệnh cho những người nghèo, những người đau khổ, những người thực sự cần có chị. Lũng Mây là một miền đất hứa, nhưng nó cũng không dành cho tất cả mọi người. Xã hội ‘thượng lưu’ ở Lũng Mây làm chị cảm thấy mệt mỏi và vô nghĩa. Nên chị cần phải đi.”

Đăng Minh lắng nghe, bỗng dưng thấy đồng cảm, dù nó thực sự chỉ muốn về nhà, chứ chẳng hề có mục đích cao cả nào như chị. Tiếng thở dài bật ra trước khi nó kịp ý thức mình đang nói thật: “Thực ra em cũng đang muốn rời khỏi Lũng Mây.”

“Em mới tới Lũng Mây có mấy ngày mà? Không muốn ở lại chơi sao? Hay vì vụ lúc nãy…?” Yên Viên nghiêng đầu hỏi. Bình tĩnh lại rồi, Đăng Minh mới chợt nhớ ra tên của chị là Yên Viên.

“Một phần thôi ạ,” Đăng Minh đáp, hai chân nó di di những chiếc lá vàng rơi rớt bên vệ đường. Nó biết mình mới gặp Yên Viên có một lần, nhưng cũng biết rằng nó tin chị: “Một phần còn vì vụ đầu độc hôm trước nữa… Chị nói đúng… Em thật lòng muốn ở lại đây thêm… Nhưng làm vậy, em sợ mình sẽ gặp nguy hiểm.”

“Ra thế,” Yên Viên gật đầu. “Nhưng chị e là em không thể rời khỏi Lũng Mây bây giờ được đâu.”

“Ý … ý chị là …sao ạ?” Câu hỏi ngắt quãng, Đăng Minh có linh cảm chẳng lành.

“Khi nãy chị có nói là chị tới tận Đe Lửa để tìm em còn gì? Chính là vì chuyện này đấy,” vị bác sĩ chủ trị nhìn nó đầy thương cảm. “Em là bệnh nhân cuối cùng của chị, nên chị muốn hoàn thành nghĩa vụ của một người bác sỹ chủ trị với em. Nếu không thể nói cho em, chắc chị sẽ không thể an tâm rời khỏi Lũng Mây mất.”

“Nói… nói… gì cơ ạ?”

“Chị nghĩ chị đã biết chất độc em trúng phải là gì rồi.”

Chẳng ngờ câu chuyện sẽ lại đi theo hướng này, Đăng Minh nhìn chị Yên Viên đầy nghi ngại. Không phải nó đã hồi phục hoàn toàn rồi hay sao?

***

“Slim ki?” Đăng Minh há hốc: “Chị nói là em nhiễm độc slim ki á?”

Chị Yên Viên gật đầu. Slim ki vốn được hình thành từ Ánh Sáng Nguyên Thủy của Mảnh Sáng, tương tác với ‘màu sắc’ của chủ thể mà mang các đặc tính khác nhau. Vì tính chất đặc trưng, riêng biệt của slim ki của mỗi chủ thể như thế, khi một slim ki lạ tương tác với chủ thể không tương thích, sẽ gây ra tổn thương.

“Đó chính là nguyên lí căn bản của các loại mã chú dùng trong chiến đấu,” chị tiếp tục giải thích. “Dùng slim ki của bản thân để đả thương đối thủ. Trong trường hợp này, slim ki đã được sử dụng như một loại độc, đưa vào trong cơ thể của em, gây ra phản ứng nhiễm độc.”

“Bảo sao,” Đăng Minh tặc lưỡi. “Bảo sao các thử nghiệm đều không tìm ra được độc tố. Ai nghĩ được slim ki cũng có thể gây nhiễm độc cơ chứ?”

“Cái đó cũng có lí do cả,” Yên Viên đáp.

Việc sử dụng slim ki để đả thương đối phương đã có từ cả trăm năm nay, ai hiểu biết về y học cũng hiểu được tác hại của nó. Nhưng đó là lí thuyết, vì trên thực tế, chưa ai có thể đưa slim ki thâm nhập sâu vào bên trong cơ thể người đến thế. Các phương pháp hiện đại trong vũ khí cũng chỉ có thể gây ra tổn thương từ bên ngoài. Bởi vì slim ki là thứ Ánh Sáng tồn tại theo chủ thể, và tan biến theo chủ thể. Khi một pang ki chết đi, Ánh Sáng sẽ lập tức rời bỏ cơ thể của nó và cái xác pang ki không khác gì xác một thú vật thông thường, chẳng thể xẻ nhỏ để chế tác thành độc. Các vật thể có khả năng chứa Ánh Sáng như đá Then có thể được mài nhỏ, nhưng lại chỉ là vật chứa, cần có nguồn slim ki liên tục nên khi rời khỏi nguồn, nó sẽ không khác gì bột đá thông thường.

Chưa kể, việc thực hiện thì vô cùng khó khăn, nhưng khả năng gây tổn thương của slim ki bên trong cơ thể lại không cao. Vốn dĩ, slim ki lạ sau khi xâm nhập sâu cơ thể người sẽ ở lại trong các mạch máu, các tế bào. Khi có một sự thay đổi về dòng chảy của slim ki, độc tố mới bắt đầu phát tác và gây ra phản ứng nhiễm độc. Những người thành thạo trong việc sử dụng slim ki có thể biết cách ‘tránh’ sử dụng tới các phần slim ki nhiễm độc trong cơ thể. Vì thế mà độc tố sẽ chẳng có cơ hội hoành hành.

Do nhiều lý do khách quan như thế mà phương pháp đưa slim ki vào máu của nạn nhân như một dạng độc xưa nay vẫn chỉ tồn tại trong các nghiên cứu y học dưới dạng giả thuyết.

Cho tới khi Đăng Minh nhập viện vào mấy ngày trước.

“Nhưng điều đó… điều đó thì có ý nghĩa gì hả chị?” Đăng Minh rụt rè hỏi tiếp, nó vẫn chưa hiểu rõ vấn đề. “Em đâu có thấy đau đớn gì… Cũng không có triệu chứng trúng độc…”

“Là vì ngay lúc này nguồn slim ki của em đang ổn định,” chị Yên Viên tiếp lời. Chị lắc đầu nhìn Đăng Minh: “Nhưng nếu em không biết cách ‘phong tỏa’ vùng slim ki nhiễm độc trong cơ thể, mỗi lần sử dụng slim ki sẽ vô cùng đau đớn. Kỹ thuật điều khiển slim ki lại không hề dễ dàng, tổi thiểu cũng phải mất vài năm.”

“Vài… vài năm?” Đăng Minh thảng thốt nhắc lại. Đứng hình phải đến năm giây, Đăng Minh mới sực nghĩ ra: “Vậy… vậy không phải bây giờ em chỉ cần phải rời khỏi Lũng Mây… không bao giờ sử dụng đến slim ki nữa… là xong sao ạ?”

Nhưng chị bác sỹ vẫn lắc đầu: “Lẽ ra là thế, với những người đã ở Lũng Mây lâu dài, nhưng với em thì không. Người Mảnh Gương khi mới tiếp nhận ánh sáng từ Mảnh Sáng, cần trải qua quá trình ‘phơi sáng’ ít nhất sáu tháng để ổn định ánh sáng trong cơ thể. Nếu em rời khỏi Lũng Mây vào lúc này, lượng ánh sáng đột ngột suy giảm sẽ khiến slim ki lạ trong cơ thể em phát tác, gây ra phản ứng nhiễm độc. Điều này cũng giải thích vì sao hôm trước tình trạng của em tự động có chuyển biến tốt sau khi trở lại Lũng Mây.”

“Nói… nói như chị là em… em không thể rời khỏi Lũng Mây trong vòng sáu tháng tới?”

Chị Yên Viên khẽ gật đầu. Trong một thoáng, Đăng Minh tưởng tim nó đã ngừng đập.

Kẻ đã đưa nó và Hạnh tới Lũng Mây, Đăng Minh không biết hắn có mục đích gì, nhưng chắc chắn hắn đang muốn giữ chân nó ở lại nơi này.

***

Cả Tùng Linh và Hạnh đều á khẩu khi nghe Đăng Minh thuật lại cuộc gặp gỡ với chị bác sỹ. Dĩ nhiên Đăng Minh cũng đủ tỉnh táo để giấu kín ý định rời khỏi Lũng Mây với Tùng Linh. Thậm chí còn không hé răng về vụ tấn công trong cửa hàng Dixeko, nó chỉ bảo là vô tình gặp chị trên đường.

“Vậy giờ hai bạn định tính thế nào? Hai tuần nữa phải trở lại Hà Nội để nhập học rồi đúng không?” Tùng Linh hỏi.

Đăng Minh thừ người. Lúc này nó chỉ muốn thở dài. Nhưng thở dài thở mãi cũng chẳng giải quyết được vấn đề. Chỉ cần tưởng tượng việc ở lại Lũng Mây thêm sáu tháng nữa, trong khi kẻ địch giấu mặt vẫn còn nằm trong bóng tối, nó vừa sợ vừa nản. Chưa kể từ giờ Đăng Minh rất có thể sẽ phải chịu đựng sự kỳ thị của một số thành phần cực đoan về gốc gác Kinh Thành của mình nữa.

Đăng Minh cười cay đắng. Chút huyền ảo kỳ bí của Lũng Mây đã che mờ mắt nó. Nếu như Hạnh và nó tới thành phố Hà Giang rồi bắt tàu hỏa về Hà Nội ngay ngày hôm kia, thì sự việc đã không đến nỗi trở thành như thế này. Bây giờ thì nó đã thực sự mắc kẹt. Tự giận mình, nó đâm giận tất cả mọi thứ xung quanh.

“Tôi nghĩ,” Đăng Minh đáp, sau một hồi suy tính. “Trước hết tôi cứ phải thử rời khỏi đây xem thế nào đã.”

“Ý anh là chị bác sỹ đã nói dối?” Tùng Linh vào thẳng vấn đề, không chút vòng vo.

“Không, tôi tin chị ấy nói thật,” Đăng Minh gạt đi ngay. “Nhưng đó là giả thuyết của chị ấy. Trường hợp như tôi là đầu tiên, nên giả thuyết của chị có thể sai…”

“Nhưng nếu chị ấy nói đúng,” Hạnh đứng nãy giờ không nói gì, đột nhiên chen lời, giọng đầy lo lắng. “Thì cậu rất có thể sẽ ngất xỉu lần nữa đấy.”

Đăng Minh thừ người, biết Hạnh nói đúng. Nghĩ tới cơn đau quặn thắt hôm trước, nó vẫn còn thấy lợm giọng.

Mới tới Lũng Mây chưa đầy một tuần, Đăng Minh đã ngất xỉu tới ba lần. Nghe thôi cũng đã chỉ thấy buồn cười chứ chẳng thương cảm gì được. Không phải nhân vật chính của bộ truyện ngôn tình đam mỹ nào, nó chẳng muốn cứ phải làm cái trò vô dụng nhất trên đời là lăn đùng ra bất tỉnh nhân sự hết lần này tới lần khác.

Nhưng nó cũng chẳng thể ở lại Lũng Mây thêm sáu tháng nữa.

Dẫu là cách nào thì bây giờ nó cũng phải thử.

***

Bọn trẻ lên đường ngay tối hôm đó. Vì ban ngày Tùng Linh còn phải đi học, mà Đăng Minh chẳng thể chờ tới cuối tuần. Lúc ba đứa kéo nhau ra khỏi Đe Lửa, sương mù đã căng trắng đục khắp các ngóc ngách. Thậm chí có những đoạn còn không nhìn rõ cả ánh đèn từ các cửa hàng, nhà dân hai bên đường.

Khác với lần trước tới thành phố Hà Giang phải đi bằng ô tô để tránh sự dòm ngó của người Mảnh Gương, lần này Tùng Linh dẫn Hạnh và Đăng Minh ra khỏi Lũng Mây bằng… xích lô.

Dĩ nhiên, xích lô ở Lũng Mây hoàn toàn không giống với xích lô ở Mảnh Gương mà Đăng Minh vẫn biết. Tùng Linh bảo chiếc xe này là quà ông nó mua tặng nó mấy năm trước khi nó thi đỗ vào trường đại học của Ngọn Sáp. Bên cạnh thiết kế duyên dáng với rất nhiều chi tiết chạm trổ trên khung kim loại màu đồng, ghế bọc vải thổ cẩm màu đỏ mận với hoa văn chìm hình con chim lửa, biểu tượng của của Đe Lửa, và phần mái vòm kéo tự động chắn mưa, chiếc xích lô hoàn toàn không có người kéo. Thay vào đó là một bảng điều khiển với một tay cầm và vô số nút bấm. Mỗi khi Tùng Linh đổi hướng, chiếc tay kéo phía trước, mà lẽ ra dành cho người phu kéo xe, ngúc ngoắc trái phải.

“Chúng ta sẽ đi ra cửa ngõ phía Đông của Lũng Mây, cũng chính là trên đường đi Hà Giang hôm trước,” Tùng Linh vừa giải thích, vừa rẽ một cú điệu nghệ ở ngã tư ngay trước khi đèn tín hiệu đổi màu. Cũng nói thêm là đèn giao thông ở Lũng Mây là đèn lồng, bay lơ lửng, ba màu xanh vàng đỏ. Vì sương mù ở đây lúc nào cũng dày đặc, nên đèn tín hiệu không đơn thuần đứng im một chỗ, mà bay lượn tứ tung ở ngã tư, bắn ra các tia sáng nổ lốp đốp mỗi khi đổi màu. Khi nào sương quá dày, còn có cả nhạc hiệu và thông báo giọng nói cho người đi đường.

Chiếc xích lô phi thẳng một mạch tới cửa Đông. Hôm trước ngồi ô tô, tầm nhìn có phần bị khuất, Đăng Minh không nhận ra bức tường thành kiên cố bao quanh Lũng Mây. Cổng thành uy nghi cao hàng chục mét, dày ba, bốn mét bằng đá tảng với hai tầng mái lợp ngói mũi hài. Hai cánh cổng nặng nề bằng thép đứng im lìm trong bóng tối. Theo lời Tùng Linh thì cánh cổng này đóng vào lúc mười hai giờ đêm, chỉ mở lại vào sáng hôm sau.

“Nhiều người ra vào thế này, người ta có quản lí được hết không thế?” Đăng Minh tò mò khi xe đang xếp hàng qua cổng.

“Hệ thống an ninh của Lũng Mây không tầm thường đâu,” Tùng Linh lập tức đáp, giọng đầy tự hào: “Là anh chưa biết chứ có một bức tường vô hình bao quanh Lũng Mây, gọi là Mắt Phượng. Mắt Phượng có khả năng phát hiện và nhận dạng slim ki. Chỉ cần đi qua đó, lập tức hệ thống sẽ phát hiện ra ánh sáng của anh, và ghi lại. Người và pang ki chưa từng được đăng kí trong hệ thống mà đi qua các cửa khẩu như thế này sẽ bị giữ lại ngay. Nói đơn giản là chẳng có ánh sáng lạ nào lọt qua được sự kiểm soát của Mắt Phượng hết.”

Nói tới đó thì chiếc xích lô cũng từ từ đi qua cổng thành. Vì cả Đăng Minh và Hạnh đều đã được đăng kí trong hệ thống ở Lũng Mây, nên cả hai đi qua không có sự cố nào. Tùng Linh nhanh chóng lái xe bon bon trên đường cái. Biên giới ánh sáng của Lũng Mây không nằm đúng ở cửa thành, mà thay đổi liên tục và trải rộng thêm vài cây số sau đó nữa. Vậy nên tụi nó tiếp tục đi.

Đến gần nửa tiếng sau đó, vẫn chưa có điều kì lạ nào xảy ra. Đồng hồ trên xe báo hiệu đã đi gần hai mươi cây số ra khỏi cửa Đông, nhưng Đăng Minh vẫn hoàn toàn an phận. Gió đêm tạt vù vù vào mặt, Đăng Minh bắt đầu thấy buồn ngủ. Nó ngả lưng xuống ghế sau, mi mắt dần trĩu lại.

Đúng lúc nó đang định kết luận lời phán đoán của chị bác sỹ là lo lắng hão huyền, thì cơn đau ập tới bất thình lình khiến Đăng Minh choáng váng mặt mày. Một lần nữa, ngực nó sôi lên, nóng ran như bị đốt. Đầu óc điên đảo, tiếng trống trận thình thình từ đâu đã trở lại, cùng cả tiếng chuông gió lanh canh phảng phất trong những màu sắc quay cuồng. Nó cố ghìm cơn đau xuống để khỏi hét lên, nhưng vẫn ôm ngực ngồi gục xuống.

Giọng Hạnh hoảng hốt giục khiến Tùng Linh lập tức quay đầu xe, phi như bay trở lại Đe Lửa. Hạnh mặt cắt không còn hột máu, chỉ biết đỡ lấy Đăng Minh lúc này đang co giật liên hồi.

***

Chừng nửa tiếng nằm nghỉ trong phòng, Đăng Minh bắt đầu tỉnh táo trở lại. Cũng may chưa rời khỏi Lũng Mây quá xa, nên lần này Đăng Minh không ngất xỉu như hôm trước.

Nó ngồi dậy, đưa mắt nhìn Hạnh và Tùng Linh một cách mệt mỏi. Xem ra, chị bác sỹ dự đoán chính xác mất rồi.

Hai đứa bạn nó đều im lặng không nói gì.

“Linh,” Đăng Minh lại là người phá tan sự yên lặng. “Có chuyện này… tôi cần phải kể với cậu.”

Tùng Linh liếc mắt dò xét Đăng Minh. Không hiểu chuyện gì đang xảy ra, nhưng là đứa trẻ nhanh nhạy, Tùng Linh hẳn đã cảm nhận được mức độ nghiêm trọng trong câu chuyện của Đăng Minh. Nó ngồi thẳng người dậy, một tay vân vê dưới cằm, chăm chú lắng nghe.

Đăng Minh tằng hắng một tiếng. Rồi rất trình tự, nó kể lại cho Tùng Linh tất cả sự việc từ ngày đầu tiên nó gặp Hạnh và việc con bé mất tích một cách bí ẩn, không sót chi tiết nào. Về người đàn ông mặc áo mưa trên cầu, về bông hoa hồng bí ẩn khiến tụi nó ngất xỉu, về việc Hạnh không có chút kí ức nào về buổi tối ngày hôm đó. Và lần đầu tiên, nó kể lại cho cả Tùng Linh lẫn Hạnh nghe về bầu trời mùa xuân màu xanh bàng bạc với những cánh hoa đào bay trong gió nó nhìn thấy trong giây phút mơ hồ giữa những cơn mơ. Duy có chi tiết về cô gái mắt mèo và chiếc vòng bạc, chẳng hiểu vì lí do gì, nó vẫn không thể mở lời.

Hạnh ngồi bên cạnh, ngạc nhiên khi Đăng Minh bất ngờ tiết lộ mọi chi tiết cho Tùng Linh, nhưng không ý kiến gì.

“Nói… nói vậy là… hai bạn có thể đã bị bắt cóc tới đây?” Tùng Linh hỏi, bàn tay trái vẫn không ngừng vân vê dưới cằm.

“Đúng vậy,” Đăng Minh gật đầu. “Và qua vụ đầu độc, thì kẻ bắt cóc còn muốn giữ tôi ở lại Lũng Mây nữa.”

“Vậy tại sao tự dưng anh lại kể hết tất cả với tôi?” Tùng Linh liếc nhìn Đăng Minh.

“Vì trong lúc nằm suy nghĩ, tôi đã nhận ra một chi tiết quan trọng,” Đăng Minh hít vào một hơi. Nó tiếp lời: “Khi nãy, đi qua cổng phía Đông của Lũng Mây, cậu đã nói là hệ thống an ninh của Lũng Mây có khả năng phát hiện các ánh sáng lạ phải không? Nhưng khi chúng ta trở lại từ Hà Giang, rồi cả hôm nay nữa, hệ thống không hề phát hiện ra slim ki lạ trong người tôi, cậu nghĩ là vì sao?”

Tùng Linh nheo mắt suy nghĩ, có thể thấy nó không chuẩn bị cho câu hỏi thình lình của Đăng Minh, nhưng rồi vẫn trả lời: “Khả năng duy nhất tôi nghĩ ra là lượng slim ki lạ rất nhỏ, lại lẫn trong slim ki vốn có của anh, nên rất khó phát hiện ra.”

“Tôi cũng đoán vậy,” Đăng Minh gật đầu. “Vậy nếu slim ki đó chưa nằm lẫn trong slim ki của tôi, mà ở trong chiếc vòng bạc. Cậu nghĩ khi đi qua cổng có bị phát hiện không?”

“Chắc chắn là có!” Tùng Linh đáp ngay tắp lự, rồi gần như lập tức, nó chột dạ: “Ý của anh là… có kẻ lợi dụng lúc chúng ta ra khỏi Lũng Mây…”

“Đúng,” Đăng Minh gật đầu lần nữa. “Lí do họ hạ độc tôi ở Hà Giang chứ không phải ở Lũng Mây là vì họ không thể mang chiếc vòng vào Lũng Mây mà không bị hệ thống an ninh ở đây phát hiện ra. Càng chứng tỏ độc tố tôi trúng phải chính là slim ki. Hành động có tính toán như thế chắc chắn đã được lên kế hoạch từ trước, cũng có nghĩa là…”

“Nghĩa là… họ biết trước việc chúng ta sẽ tới Hà Giang nên mới chuẩn bị…” Hạnh tiếp lời, lập tức lấy hai tay ôm mặt sợ hãi. Kẻ địch nằm đâu đó rất gần xung quanh tụi nó mà thôi.

“Vậy thì tôi lại càng không hiểu… Tại sao anh lại kể chuyện này với tôi?” Tùng Linh nhíu mày. Ánh mắt bất thần thay đổi, trở nên sắc lẹm, giọng nói cũng trở nên nghiêm túc hơn: “Chẳng phải, nếu nói về lý thì… tôi chính là một nghi can số một hay sao?”

Đăng Minh nhìn Tùng Linh hồi lâu, trước khi thở phào một tiếng, mỉm cười: “Tôi cũng đã nghĩ thế. Thật may cậu lại hỏi… ít nhất giờ tôi có thêm một lí do để tin cậu không phải kẻ thù… Thực ra tôi nghĩ… tôi cần sự giúp đỡ của một người hiểu rõ về Lũng Mây. Chỉ tôi và Hạnh nhất định sẽ thua. Nhưng nếu có thêm cậu… Tóm lại tôi chỉ còn mỗi cách liều mà tin cậu lần này…”

Tùng Linh nheo mắt nhìn Đăng Minh: “Tôi đã đánh giá sai về anh thì phải. Anh không hề đơn giản như tôi nghĩ. Những người Kinh Thành có phải đều như thế không?”

Lần này tới lượt Đăng Minh ngạc nhiên: “Sao… sao cậu biết chúng tôi là người Kinh Thành? Tôi chưa bao giờ nói…”

“Anh nghĩ Đe Lửa là nơi thế nào chứ?” Tùng Linh cười nhạt. “Sao có thể dễ dàng để người lạ lưu lại mà không điều tra chút nào được?”

Đăng Minh cười khan một tiếng. Lúc này, thật tâm nó hi vọng Tùng Linh là bạn, vì nếu là kẻ thù, thằng này chắc chắn không phải dạng vừa.

**************************

Hết Chương IX