6661-x-ngon-sap
Như thế, Đăng Minh chính thức ở lại Đe Lửa.
Hạnh, không ngờ cũng quyết tâm ở lại, thay vì trở về Hà Nội nhập học.
“Tớ muốn ở lại Lũng Mây,” Hạnh quả quyết. “Tớ không muốn về Hà Nội bây giờ. Tớ đi học khoa Lịch Sử vốn để hiểu biết thêm, nhưng giờ tớ có thể học được nhiều thứ ở đây hơn là ở Hà Nội nữa…”
Đôi mắt sâu thẳm như hồ nước mùa thu ánh lên kiên định. Ánh mắt như thế, dĩ nhiên chẳng ai có thể nghi ngờ sự chân thành của người nói, nhưng nội dung câu nói lại khiến Đăng Minh phải nghi ngờ … tình trạng tâm lý của người thốt ra. Nếu được chọn, chẳng ai lại liều mình bỏ học một năm chỉ vì những giá trị phù du như ‘hiểu biết thêm về thế giới’ như thế. Có chăng chỉ có thể là vì con bé này hơi bị … ‘hâm’, thích làm kẻ mơ mộng hão huyền. Nhưng nói gì đi chăng nữa thì việc Hạnh ở lại Lũng Mây có lợi mười mươi cho Đăng Minh, khi tự dưng có thêm đồng bọn. Nên dù thâm tâm thấy Hạnh đã quá cảm tính và nông nổi, Đăng Minh vẫn chỉ khuyên can vài câu lấy lệ, rồi hí hửng mừng thầm khi Hạnh vẫn ‘vững như thạch bàn’. Thậm chí chính Hạnh còn là người gợi ý Đăng Minh nói bố mẹ làm thủ tục bảo lưu kết quả đại học để nhập học vào năm sau.
Thuyết phục được bố mẹ Đăng Minh, à đấy còn cái vấn đề ấy nữa, dĩ nhiên không phải chuyện đơn giản.
Đầu tiên là vấn đề đi lại. Đăng Minh lúc này ko thể tới tận thành phố Hà Giang để gọi điện thoại về cho gia đình. Cách duy nhất là viết email. Mà thậm chí email nó cũng phải viết sẵn bằng giấy bút, rồi đưa Hạnh cất công vào thành phố, ngồi quán net mà gửi giùm. Hạnh mua một chiếc điện thoại, cài sim 3G, nhưng phải mất đến hơn một tuần sau mới mò ra được một vị trí cách cổng phía Nam của Lũng Mây tới hơn năm chục cây số để bắt được sóng mạng. Khoảng cách xa như thế, Đăng Minh không đi nổi, nên vẫn cứ là Hạnh phải ngày ngày đi gửi thư trao đổi giùm. Ít nhất con bé không phải lặn lội hẳn về thành phố Hà Giang. Nó dễ say xe, lần nào về cũng mệt lả trông rất tội nghiệp.
Phương pháp thôi cũng đã khó khăn, còn chưa nói tới thực hành. Hẳn mẹ Đăng Minh đã ngất sau khi đọc lá thư của nó, Đăng Minh đoán thế. Và sau khi tỉnh dậy rất có thể bố mẹ đã miệt mài tra cứu… binh pháp Tôn Tử. Vì bức thư hồi đáp đầu tiên mang đậm phong cách do thám ‘Biết mình, biết ta. Trăm trận trăm thắng’:
“Con trai thân mến.
Nhận được thư của con, bố mẹ vô cùng bất ngờ. Trước hết, mẹ cũng có chút cảm động vì con trai của mẹ giờ đã biết suy nghĩ cho người khác, cho những đồng bào miền cao thiếu thốn. Tuổi trẻ sức dài vai rộng, nghĩ tới việc đem cái văn minh tới cho những con người lạc hậu là một điều đáng quý. Nhưng bố mẹ hi vọng con hãy suy nghĩ cho thật kỹ càng với chọn lựa của mình. Con người ta cần phải học cách giúp đỡ bản thân mình trước khi giúp đỡ người khác. Tức là cần phải trau dồi về kiến thức, về khả năng và cả tiềm lực kinh tế trước khi có cái ‘vốn’ để đem ra giúp sức cho đời. Bố mẹ mong con hãy suy nghĩ về lâu về dài. Hãy về Hà Nội học tập, lao động, rồi quay lại giúp đỡ cho đồng bào miền cao trong một tương lai không xa, với một bệ đỡ vững chãi hơn. Khi ấy, không những con có thể làm được nhiều hơn cho họ, mà còn nhiều hơn cho chính mình nữa.
Bố mẹ chờ thư con.”
Lời lẽ mềm mỏng, lí lẽ thuyết phục vừa cương vừa nhu, nếu bình thường đã rung động những đứa trẻ tuổi teen nổi loạn cứng đầu nhất. Nhưng tình trạng của Đăng Minh bây giờ không cho phép nó làm đứa con hiếu thuận biết vâng lời. Nó tặc lưỡi viết thư trả lời, thể hiện ‘tình yêu dạt dào’ với ‘công tác thiện nguyện’, ‘giúp đỡ đồng bào khó khăn’ của nó hiện tại và hi vọng bố mẹ có thể tạo điều kiện cho nó ‘thỏa ước mơ giúp ích cho đời’. Hạnh đã cười ngất khi đọc thư của Đăng Minh, nhưng rồi vẫn lóc cóc thuê xích lô đi năm mươi cây số đường chỉ để gửi thư cho nó.
Thấy lí lẽ không có tác dụng, bức thư thứ hai của bố mẹ Đăng Minh dài hơn gấp hai lần, lần này tập trung đánh vào tâm lí:
“…Nếu thương bố mẹ thì con không nên nói với bố mẹ những lời thiếu trách nhiệm như thế. Con lo cho đồng bào miền cao, nhưng con có nghĩ tới bố mẹ?… Chỉ mới một tuần trước, mỗi khi người ta hỏi con anh thi đại học thế nào, bố còn có thể ưỡn ngực tự hào con đỗ rất cao, mà giờ con bảo bố phải trả lời họ như thế nào? Rằng con bỏ học lên vùng cao ở hay sao? …Chưa kể đi học chậm một năm như thế, con không nghĩ tới chuyện thua kém chúng bạn? Kiến thức khi ấy cũng quên đi ít nhiều, con liệu có giữ vững được thành tích? …”
Và đến bức thư thứ ba thì bố mẹ Đăng Minh hoàn toàn chuyển qua phong cách đe dọa:
“ …Người ngoài nhìn vào người ta sẽ đánh giá bố mẹ như thế nào, chẳng nhẽ anh chưa bao giờ nghĩ tới? Bố mẹ phải mang cái danh không biết dạy con cái, để nó chưa biết hiếu thuận với cha mẹ ngày nào đã đi lo chuyện bao đồng bên ngoài mà anh không thấy xót? …Mẹ anh đã không ăn uống được gì hai hôm nay rồi. Mẹ nói mẹ chỉ muốn chết quách đi cho rồi. Anh muốn nhìn thấy bố mẹ phải khổ sở thì anh mới hả dạ hay sao?…”
Ai cũng biết là có nói thế, nói nữa thì Đăng Minh cũng chẳng thể rời khỏi Lũng Mây quá hai chục cây số mà không lăn đùng ra đó giãy đành đạch sùi bọt mép. Vì thế mà Đăng Minh, dù cảm thấy vô cùng cắn rứt, hoang mang và sợ hãi, cũng vẫn cứ phải khăng khăng ở lại Lũng Mây. Bố mẹ nó sau chừng chục bức thư dài dòng với đủ lời lẽ dọa nạt, thuyết phục, năn nỉ, cuối cùng đã phải đầu hàng, đồng ý giúp nó lo thủ tục bảo lưu ở trường.
Khác với bố mẹ Đăng Minh, bố mẹ Hạnh lại không có vẻ quan tâm nhiều tới việc Hạnh quyết định đi học chậm một năm. Nó chỉ gọi điện về nhà có đúng một lần là giải quyết xong vấn đề. Cứ như thể bố mẹ Hạnh chỉ cần biết nó còn sống, sống rồi thì muốn ra sao cũng mặc.
Nhưng nói tóm lại thì cả Đăng Minh và Hạnh đều ở lại Lũng Mây. Không hổ cái mác thiếu gia hào phóng, Tùng Linh thản nhiên tuyên bố sẽ bao ăn ở cho cả hai đứa suốt sáu tháng tới. Không biết trong cái sự hào phóng ấy của Tùng Linh có bao nhiêu phần trăm sốt sắng muốn giúp đỡ một người bạn mới quen trong cơn hoạn nạn, và bao nhiêu phần trăm vì cảm tình trên mức bình thường của thằng này với Hạnh. Nhưng động cơ của Tùng Linh có là thế nào, thì cả Đăng Minh và Hạnh nghiễm nhiên có chỗ ăn ở thoải mái trong xưởng rèn lớn nhất, uy tín nhất của Lũng Mây. Âu cũng là ‘trong cái rủi, lại có cái may’.
Từ ngày biết rõ nguồn cơn câu chuyện của Đăng Minh và Hạnh, Tùng Linh cũng trở nên vô cùng tích cực trong việc tìm kiếm manh mối. Nó theo Đăng Minh và Hạnh tới cái cổng bằng rễ cây trên chiếc cầu vắt ngang Thác Bạc, nơi A Xáng đã tìm thấy hai đứa này. Lắng nghe chăm chú giả thuyết về ‘cánh cổng không gian’ giữa hai chiếc cổng vòm bằng rễ cây của Đăng Minh, Tùng Linh phân tích: “Đường Đến là các mạch sáng ngẫu nhiên hình thành khi ánh sáng ở mức cực đại, âm dương hỗn loạn. Không nhất thiết hai đầu của nó phải trông giống nhau. Hai cái cổng vòm bằng rễ cây của mày, tao nghĩ khả năng là trùng hợp.”
Cũng phải nói thêm là sau giai đoạn trịch thượng ban đầu với các ngôi xưng hết sức khách sáo kiểu ‘anh, tôi’, ‘bạn, tôi’, Tùng Linh đã chuyển qua xưng ‘mày, tao’ ngọt xớt với Đăng Minh. Dù nếu tính về tuổi tác thì Đăng Minh và Hạnh lớn hơn nó một tuổi. Nó cũng nhất quyết không gọi Hạnh là ‘chị’, chỉ từ đầu đến cuối ‘cậu, tớ’. Ai cũng hiểu nó không muốn xưng ‘em’.
Đăng Minh, vốn là kẻ thích đặt nặng vai vế, ban đầu cũng tương đối khó chịu, nhưng chẳng phản đối được, cũng đành chấp nhận cách xưng hô ấy: “Nói vậy thì mày không thể khẳng định tao và Hạnh đã bị đưa đến cây cầu này đầu tiên. Đúng không?”
“Ý là gì?” Tùng Linh đáp cụt.
“Ý tao là Đường Đến có thể dẫn bọn tao tới chỗ khác, nhưng có người đưa bọn tao về chiếc cầu này,” Đăng Minh gãi cổ.
“Về lí thì có thể,” Tùng Linh nhún vai. “Nhưng sao tự dưng nghĩ thế?”
“Vì cánh hoa đào….” Đăng Minh lùng bùng trong miệng. Nói ra cũng ngượng. Tới giờ nó vẫn không làm cách nào thuyết phục được hai đứa bạn nó rằng những gì nó nhìn thấy không phải là ảo ảnh.
“Mày vẫn còn bị ám ảnh với ‘trời xanh, hoa đào’ à? Tao đã nói rồi, giờ là tháng Bảy, lấy đâu ra hoa đào cho mày?” Quả nhiên, vừa nghe Đăng Minh nhắc tới, Tùng Linh đã nhăn nhó. Vừa nói, chân Tùng Linh vừa rảo bước tới chiếc cổng rễ cây, sục sạo xung quanh: “Hay mày nhìn nhầm mấy cái rễ cây màu đỏ này? Đầu óc không tỉnh táo, nhìn nhầm cũng có gì là lạ.”
Rồi quay phắt sang Hạnh với nụ cười và giọng nói ngọt ngào như kẹo: “Cậu có nghĩ thế không Hồ Thu?”
Đăng Minh trợn mắt nhìn Tùng Linh. Có cố gắng nín nhịn thế nào, nó vẫn không hết rùng mình mỗi khi nghe cái tên ‘Hồ Thu’ mà Tùng Linh dùng để gọi Hạnh. Đăng Minh biết Tùng Linh không phải kẻ đầu óc trên mây, nhưng chả hiểu sao thằng này có thể ‘sến sẩm’ và nịnh hót đến mức ấy. Ai đời nhìn vào mắt con người ta, lại ra được hẳn hồ nước mùa thu thăm thẳm bao giờ. Nghe mấy lời đường mật của Tùng Linh, lúc nào Đăng Minh cũng quắn quéo hết cả tay chân. Nhưng thằng này dốc sức giúp đỡ nó và Hạnh, Đăng Minh chẳng tiện tỏ thái độ lồi lõm. Nên chỉ còn cách nhắm mắt bịt tai, coi như không nghe, không thấy.
Tùng Linh còn bắt Đăng Minh kể đi kể lại các chi tiết của buổi tối hôm tụi nó bị đưa tới Lũng Mây, chi tiết hành tung của Đăng Minh và Hạnh từ hôm đó tới giờ. Nhưng vì Đăng Minh vẫn cố ý giấu nhẹm chi tiết về cô gái mắt mèo và chiếc vòng bạc, nên Tùng Linh cuối cùng cũng chỉ có thể đi đến kết luận rằng: manh mối lớn nhất là người đàn ông lạ mặt mặc áo mưa với bông hồng đỏ trên cầu, và cả chất độc kì lạ đã được dùng để đưa slim ki vào cơ thể Đăng Minh.
“Tao thấy người đàn ông đó rất đáng nghi,” Tùng Linh vân vê cằm. “Bông hồng đỏ mà hắn dùng… nếu chúng ta hiểu thêm một chút…” Thế rồi nó vỗ tay đánh chát, quả quyết: “Tao biết rồi, mai tao sẽ đưa mày và Hạnh tới Ngọn Sáp.”
Đăng Minh cũng vỗ đùi đánh ‘đét’ hưởng ứng. Muốn bắt được cọp phải vào hang, muốn đi tìm kiến thức, chỉ có thể xông vào Ngọn Sáp.
***
Ngọn Sáp, hay theo tên trẻ con ở đây hay gọi là Ngọn Sét, thực sự là một cái cây khổng lồ. Nhìn từ bên ngoài, nó đã giống một quả núi, vào tới bên trong thì còn có cảm giác rộng hơn rất nhiều. Ngay lúc biết cả bọn chuẩn bị tới Ngọn Sáp, Hạnh đã xin Tùng Linh cho A Xáng đi theo, vì A Xáng đã từng rất háo hức muốn đưa Đăng Minh và Hạnh tới thăm Ngọn Sáp.
Thư viện cộng đồng nằm ở ngay tầng Một, phía sau quầy Lễ Tân, trải rộng tới cả tầng Hai. Tùng Linh dẫn mấy đứa tụi nó qua chiếc cầu thang dài bằng gỗ màu đen bóng dẫn từ quảng trường lên phòng lễ tân của Ngọn Sáp nằm đâu đó phía trong những tảng rễ xù xì gai góc. Cầu thang đặc biệt này đã được xây từ sau khi bề mặt Ngọn Sáp cháy nham nhở và trở nên nguy hiểm cho người qua đường như hiện giờ. Khói rỉ ra từ trong thân cây, dậy mùi nhựa, vừa thơm ngai ngái khó chịu, lại vừa khiến không gian chết chóc bên ngoài cái cây khổng lồ thêm phần ám ảnh. Càng nhìn, Đăng Minh càng tưởng tượng mình đang đi qua một vùng đất chết hay khu vực gần miệng núi lửa, chứ không phải đường vào một thư viện hàng đầu.
“Vì sao người ta không cứu lấy cái cây này?” Đăng Minh thắc mắc: “Chẳng nhẽ bao phép thuật ở Lũng Mây không tác dụng gì à?”
“Đâu dễ thế,” Tùng Linh lắc đầu. “Ngọn Sáp không bị thiêu cháy bởi một ngọn lửa bình thường, mà là ‘Ngọn Lửa Đen’ huyền thoại của Lũng Mây.”
“Ngọn Lửa Đen?”
“Ừ,” Tùng Linh đáp, chân vẫn rảo bước. “Ngọn Lửa Đen. Ngọn lửa của dòng họ Ma Thanh, ‘đen đặc như bóng đêm, không cháy, mà chảy cuồn cuộn như nước, nuốt chửng tất cả mọi thứ nó đi qua’, nên còn được biết với cái tên ‘Suối Đêm’. Sức mạnh của nó thực sự khủng khiếp, một khi chạm vào thứ gì sẽ không dừng lại cho tới khi nó thiêu rụi thứ đó. Ngọn Sáp là thứ duy nhất trong lịch sử còn sống sót dưới lưỡi lửa của Suối Đêm…”
“Nhưng nó cũng chẳng được tồn tại nguyên vẹn…” Hạnh ngước mắt nhìn những mạch nhựa như đang rỉ máu, thốt lên.
“Ừ, giờ nó trở thành Ngọn Sét, chứ không còn là Ngọn Sáp nữa,” Tùng Linh tiếp lời. “Sau cuộc chiến, rất nhiều chuyên gia đã cố gắng nghiên cứu để phục hồi Ngọn Sét, nhưng đều vô dụng…”
“Từ tầng Ba trở lên là Viện Hàn Lâm,” thấy chủ đề có phần đi theo chiều hướng u ám, Tùng Linh cố gắng thay đổi không khí, vừa nói, nó vừa chỉ tay lên hàng loạt cửa sổ tròn trổ ra từ thân cây cháy đen vặn vẹo của Ngọn Sáp. “Là nơi các học giả làm việc.”
Rất nhiều người trong số các học giả của Lũng Mây, sau thời gian dài hoạt động nghiên cứu sẽ trở thành các ứng cử viên sáng giá cho vị trí đại trong chính phủ, những nhà khoa học xuất sắc hàng đầu, các giáo sư đại học uy tín trên khắp cả nước. Tức là con đường công danh của một người chắc chắn sẽ rộng mở từ ngày bước chân vào Ngọn Sáp. Cũng có nghĩa là kì thi tuyển chọn học giả cho Ngọn Sáp được coi như một trong số các sự kiện lớn nhất trong năm. Khi các sinh viên từ khắp các trường đại học uy tín trên cả nước sẽ đổ về Lũng Mây tham dự kì thi. Tỉ lệ chọi thí sinh ở đây lên tới 1 trên 10.000, thậm chí còn hơn. Đơn cử như năm ngoái, trong số 50.000 sinh viên, Ngọn Sáp chỉ lấy đúng bốn người.
“Tao cũng nhất định phải vào được đó,” Tùng Linh trầm giọng, nhưng lại không phải là khẩu khí của kẻ đang hạ quyết tâm. Đôi lông mày của nó nhíu lại, như lo lắng nhiều hơn là phấn khởi.
Nét mặt bồn chồn của Tùng Linh khiến đứa tự mãn như Đăng Minh cũng tự nhiên thấy phải dè chừng. Với tỉ lệ chọi khủng khiếp còn hơn cả thi vào các trường đại học lớn nó vẫn biết, những cái đầu đang làm việc cho Ngọn Sáp kia hẳn là những cái đầu ưu tú nhất, tinh túy nhất của cả một quốc gia. Đăng Minh ngước nhìn lên phía trên của cái cây khổng lồ, nơi ánh đèn ấm áp tỏa ra từ bên trong, khiến tấm phù điêu bằng đồng với hình Ngọn Sáp bên trên một cuốn sách mở bên ngoài cửa sổ ánh lên, sáng lấp loáng. Tự dưng thấy thầm ngưỡng mộ.
Đăng Minh, Hạnh và A Xáng theo Tùng Linh vào cổng chính. Giống như ở tòa nhà hành chính hôm trước, tụi nó lần lượt đặt Đốm Hạc của mình lên chiếc đĩa tròn màu xanh, nổi giữa một chiếc bồn đá chứa thứ chất lỏng kì lạ như sương như khói ngay trước cổng Ngọn Sáp. Một chú chim cu gáy màu vàng sẫm giang rộng đôi cánh nhìn tụi nó, giọng nói phát ra là của một người phụ nữ trung niên chừng năm mươi tuổi: “Chào mừng các bạn Tùng Linh, Đăng Minh và Hạnh đến với kho tàng tri thức của Ngọn Sáp.”
Ngay lập tức sau đó, chiếc cổng đá nặng nề màu đen tuyền nhẹ nhàng trượt qua một bên, nhường đường cho tụi nó. Đăng Minh và Hạnh hoàn toàn không thể ngậm nổi miệng trước hàng nghìn giá sách giăng kín trước mặt. Không thể tin vào mắt mình.
Cạnh cửa vào là bản đồ tầng Một của Ngọn Sáp, với hình vẽ năm hàng kệ sách xếp theo vòng tròn. Ở giữa là khu vực tự học cho người dùng. Phần giới thiệu viết:
“Ngọn Sáp được thành lập từ năm 1472-1475, dưới thời Thăng Long tộc trưởng Đinh Thượng, với tên gọi ban đầu là Vân Trung Thư Viện, ‘thư viện nằm trong mây’. Đây là thời kỳ mà tộc trưởng cùng vua Lê Thánh Tông (1460-1497) kết hợp các chính sách tích cực nhằm thúc đẩy việc biên soạn lịch sử như một công cụ xây dựng nối liền đạo thống, khôi phục kho tư liệu, sử liệu dân tộc sau giai đoạn bị triệt tiêu văn hóa, sách vở thời thuộc Minh…
[…] Trải qua hàng ngàn năm sưu tầm, biên dịch và biên tập, Ngọn Sáp dần tích lũy số lượng sách khổng lồ, trở thành thư viện lớn nhất Đại Việt… Năm 1932, sau sự sụp đổ của Kinh Thành, hàng triệu tựa sách từ Đại Việt Nhất Tông Viện, vốn tọa lạc ở phía Nam Kinh Thành, đã được đem về cất giữ ở Lũng Mây. Ngày nay, Ngọn Sáp hân hạnh được giới thiệu đến các bạn đọc hơn 35.640.000 tựa sách, hơn 28.036.000 ấn bản báo, tạp chí, nghiên cứu khoa học, và hơn 159.350.000 sản phẩm in ấn khác từ khắp nơi trên thế giới.
[…] Chúng tôi hi vọng các bạn sẽ tìm được những tri thức quý báu trong kho tàng vô giá chúng tôi vẫn luôn gìn giữ hàng trăm năm qua tại Lũng Mây…”
Đăng Minh há hốc. Nhìn những con số khủng khiếp trên bảng hướng dẫn, Ngọn Sáp thậm chí còn là đối thủ tương xứng với những thư viện cộng đồng đồ sộ nhất trên thế giới như thư viện Quốc Gia Anh ở Luân Đôn, hay thư viện Quốc Hội của Mỹ ở Washington D.C. Vậy mà kẻ lộng ngôn là Đăng Minh đã từng dám mở miệng tuyên bố cái ‘thư viện làng’ của A Xáng chỉ đáng xách dép cho thư viện Quốc Gia tại Hà Nội. Giờ nghĩ lại mới thấy quả là quá ngông cuồng.
Đăng Minh len lén đưa mắt sang nhìn A Xáng. Thở phào khi thấy thằng nhóc đã ton tót sà vào đống sách trước mặt mà quên mất việc chọc ngoáy mình. Nó thẹn một mình cũng đủ lắm rồi, chẳng cần cái miệng mồm tép nhảy của thằng nhóc A Xáng ngây thơ này nữa.
Tụi nó theo chân Tùng Linh tới khu vực tự học ở trung tâm tầng Một. Hàng trăm dãy bàn dài bằng đá đen gần như kín người ngồi học. Và quả nhiên, thư viện ở một xứ sở thần kì như Lũng Mây có rất nhiều điểm khác biệt với thư viện nước ngoài mà Đăng Minh vẫn quen nhìn thấy trên phim.
Đầu tiên là sự có mặt của hàng trăm chú chim cu gáy với ánh sáng màu vàng cát bay lượn khắp nơi trong thư viện. Chúng mang theo sách, tạp chí, ấn phẩm, sà xuống các dãy bàn, đặt ngay ngắn lên bàn. Những người đang ngồi đó thì chăm chú nhìn vào khoảng không trước mặt, thỉnh thoảng dùng bút vẽ ra những vệt sáng lằng nhằng bay lượn trên không trung. Đăng Minh nhìn theo, cứ thế mà trầm trồ không ngớt.
Tùng Linh và A Xáng, trong lúc đó, đã nhanh chân tìm được chỗ ngồi. Tùng Linh hướng dẫn tụi nó đặt Đốm Hạc vào trong khoảng lõm nhỏ hình tròn trên mặt bàn. Hàng chữ dài màu vàng hiện ra trước mặt nó, lơ lửng trên không trung: “Chào mừng bạn Đăng Minh đến với hệ thống truy cập nhanh của Ngọn Sáp.”
Tùng Linh dùng bút vẽ vào khoảng không hai chữ ‘hoa hồng’. Lập tức các đầu sách có liên quan, các bài báo, tạp chí ấn phẩm, lần lượt hiện ra trên ‘màn hình’, hay chính xác hơn là khoảng không trôi nổi trước mặt. Nó nhoay nhoáy lướt qua phần sơ lược nội dung, chọn vài quyển sách, rồi gõ cán bút vào chữ ‘Xuất’ đang lờ đờ trôi dạt xung quanh. Lập tức Đốm Hạc của thằng này bùng lên ngọn lửa màu đỏ, rồi một cuộn giấy nhỏ bắn ra. Tùng Linh nhanh tay chụp lấy cuộn giấy. Bên trong là danh sách những quyển sách thằng này vừa chọn, kèm theo vị trí từng quyển trong thư viện. Tùng Linh tiếp tục dùng bút gõ vào tên quyển sách đầu tiên trên cuộn giấy nhỏ, bản đồ tầng hiện ra với mũi tên chỉ hướng dẫn đường cho tụi nó tới tận giá sách cần tìm. Đăng Minh gục gặc đầu, bằng cách này hay cách khác, người Lũng Mây đã sử dụng pháp thuật của họ thay cho sự hiện diện của công nghệ, máy tính bảng hay điện thoại trong thế giới ở Mảnh Gương.
Theo chân Tùng Linh, tụi nó đi tìm cuốn sách đầu tiên. Tìm được rồi thì Tùng Linh dùng bút viết số bàn của nó lên bìa sau. Lập tức một chú chim cu gáy sà xuống cạnh nó, cắp cuốn sách bay đi. Tên cuốn sách trên tờ giấy cũng tự động bị gạch ngang một nét. Cứ thế, Tùng Linh tiếp tục cho tới khi danh sách trong tay đã bị gạch ngang hết cả.
Tới lúc chúng nó trở lại bàn thì tất cả sách đều đã được xếp gọn gàng một góc. Tùng Linh mở cuốn sách ra, thản nhiên rút chiếc bút trong túi ra định viết trực tiếp lên sách.
Đăng Minh tái mặt: “Ơ…Sao.. sao mày vẽ bậy…”
Tùng Linh ngẩng đầu nhìn Đăng Minh, nhưng thay vì giải thích, lật cho Đăng Minh xem bìa sau của những quyển sách nó vừa viết lên khi nãy. Kinh ngạc thay, những vết mực vừa nãy đã hoàn toàn biến mất, bìa sách vẫn sạch sẽ như mới.
“‘Quản Slư[1]’, hay ‘Quản Tự’, là loại bút chuyên dùng để viết mã chú,” Tùng Linh giải thích. “Nghe đồn là phát minh thế kỷ thay cho các nguyên liệu truyền thống là …da và máu. Nhưng chắc là chuyện từ thời nguyên thủy rồi…”
Vừa nói, Tùng Linh vừa tiếp tục ngoáy hai chữ ‘hoa hồng’ lên trang đầu tiên của cuốn sách, mặc kệ hai đứa bạn vẫn còn đang há hốc bên cạnh. Chữ nó chẳng khác gì gà bới, nhưng không ngờ hệ thống của Ngọn Sáp vẫn đọc hiểu được. Cuốn sách lập tức tự lật qua như có người giở. Ở trang hai lăm, từ ‘hoa hồng’ sáng lên một màu cát hung. Đăng Minh cũng lập tức quay qua Hạnh thì thào: “Không khác gì tổ hợp phím Ctrl+F trên máy tính ấy nhỉ?”
Sau chút bỡ ngỡ ban đầu, Đăng Minh và Hạnh đều nhanh chóng bắt nhịp với ‘phong cách thư viện’ thú vị vủa Ngọn Sáp. Hai đứa ngồi xuống, cầm lấy mấy cuốn sách Tùng Linh mang về, và bắt đầu chúi mũi đọc các thông tin liên quan đến hoa hồng đỏ.
Đăng Minh từng nghĩ muốn tìm kiến thức, chỉ có thể xông vào Ngọn Sáp. Bởi vì nó biết ở đây có RẤT NHIỀU sách. Điều duy nhất nó không biết, là ở Ngọn Sáp có QUÁ NHIỀU sách. Số lượng các tựa sách, các ấn phẩm báo chí, thậm chí là nghiên cứu khoa học liên quan đến hoa hồng nhiều đến bạt ngàn. Nào là công dụng của hoa hồng trong y học phương Đông, nào là các bài thuốc dân gian từ hoa hồng, nào là hoa hồng trong thuyết thần học, các mã chú căn bản với bộ ‘Mộc’. Đấy là chưa kể hàng trăm cuốn sách khác về biểu tượng hoa hồng trong kiến trúc Đại Việt, hoa hồng và báo mộng.
Cả bốn đứa ngồi đọc miệt mài nguyên cả buổi sáng, sang tới buổi chiều, rồi hết luôn cả một ngày chủ nhật cuối tuần. Là đứa giỏi học hành, nhưng Đăng Minh cũng chỉ trụ được tới quyển sách thứ mười lăm. Sau đó, các con chữ bắt đầu nhảy múa trước mặt dù nó cố gắng tập trung. Và nội dung các quyển sách bắt đầu trở nên giống hệt nhau: tức là chẳng có nội dung gì nữa cả. Đầu óc quay vòng, Đăng Minh quay qua nhìn Tùng Linh.
Tùng Linh, dường như có chút quen thuộc với công việc tra cứu học thuật ở Ngọn Sáp, trụ được lâu hơn Đăng Minh chút ít, nhưng đến cuốn sách thứ mười tám, Đăng Minh thấy thằng này cũng đã bắt đầu đọc đi đọc lại một trang, mà có vẻ mãi cũng không hiểu ý tứ trong sách đang nói về cái gì.
Nhưng như thế vẫn còn khá hơn hẳn Hạnh và A Xáng. Không hề sinh ra cho sách vở, cả hai đứa nó chỉ ngồi chăm chú nhìn sách được chừng một tiếng là đã bắt đầu đi kiếm … truyện tranh đọc, ngồi cười hí hí một góc. Đăng Minh thở dài. Nó cũng chẳng trông chờ gì nhiều.
Chỉ riêng việc chúng nó chịu ngồi lại đây ngày cuối tuần, Hạnh không đòi đi shopping, thằng A Xáng không đòi đi xem Quản Slư, Đốm Hạc, bánh Trung Thu ngoài đường đã là nỗ lực to lớn rồi ấy chứ.
***
Hai ngày trong Ngọn Sáp gần như rút cạn sức lực của cả bốn đứa. Tầm hơn tám giờ tối, chúng nó thất thểu dắt nhau về Đe Lửa trong tình trạng mệt mỏi chẳng khác gì mới đi đánh nhau. Đăng Minh chưa bao giờ thấy thèm đồ ăn của chú Như Nghệ như thế. Sáng nay ra khỏi nhà, nó nhớ chú có bảo tối sẽ nấu gà hầm măng với rau dớn xào. Nó nghĩ mình có đủ năng lượng để lết được về tới Đe Lửa là nhờ ý nghĩ về bàn ăn thịnh soạn sẵn sàng và mùi nước mận chua nhè nhẹ thơm lừng của chú.
Bước chân nó hùng dũng và trái tim nó một lòng chỉ hướng về phía nhà bếp. Thế nhưng một thứ khác đã làm chậm trễ bữa tối muộn của tụi nó.
Bởi vì khi Tùng Linh vừa bước chân vào sảnh lớn của Đe Lửa, một nhân viên đứng tuổi trong trang phục áo Piêu đỏ mận của Đe Lửa đã tiến tới trước mặt nó. Người phụ nữ trung niên có gương mặt tròn phúc hậu, tạng người nhỏ nhưng hơi đậm, mái tóc muối tiêu vấn gọn sau gáy. Gót giày nện từng tiếng đanh gọn trên nền gỗ theo mỗi bước chân nhanh nhẹn nhưng không hề gấp gáp, bác kính cẩn cúi đầu, nói: “Bẩm, cậu đã về.”
“Cháu chào bác ạ,” Tùng Linh e dè gật đầu, hình như việc nhân viên ra tận cửa đón cậu chủ Đe Lửa và các bạn nó đi chơi về như thế này không phải chuyện ‘thường ngày ở huyện’. Quay qua Đăng Minh và Hạnh, Tùng Linh giới thiệu: “Đây là bác Nguyệt. Bác là người quản lí các nhân viên phục vụ trong Đe Lửa.”
Đăng Minh, Hạnh và A Xáng cúi đầu chào bác.
“Bẩm cậu, ông mới về. Ông bảo cậu đem các bạn mới qua gặp,” bác Nguyệt vẫn cúi đầu kính cẩn, thưa.
Hơi thở của Tùng Linh như dừng lại một chút. Ánh mắt chợt thay đổi, nó nhìn Đăng Minh và Hạnh, nói, dù giọng nói không hề biểu lộ nhiều cảm xúc: “Ông của tôi có lời mời các bạn qua gặp. Thời gian tới các bạn sẽ còn lưu lại Đe Lửa, cũng nên qua vấn an ông.”
Đăng Minh thốt nhiên cũng thấy dè chừng. Cách xưng hô ‘tôi, bạn’ và ngôn từ trịnh trọng bất thường của Tùng Linh khiến nó cảm thấy lo lắng. Đưa mắt nhìn Hạnh, gương mặt xinh đẹp của con bé cũng đang nhíu lại đầy phân vân.
Tùng Linh nhìn tụi bạn. Tất nhiên nhận ra sự bồn chồn trong ánh mắt của hai đứa, nhưng thay vì nói đôi lời trấn an, chỉ khẽ gật đầu. Nó ngoắt ngón tay theo điệu bộ bảo tụi kia đi theo, rồi lầm lũi đi trước. Đăng Minh lại nhìn Hạnh, nhưng không có cách nào khác là phải líu ríu theo sau.
Đây là lần đầu tiên Đăng Minh và Hạnh đi vào khu vực chính của Đe Lửa, chứ không phải chái nhà nhỏ cho khách ở sau đồi. Hành lang ở đây có vẻ to và sáng hơn, với nhiều bức vẽ trên rèm tre lớn sặc sỡ màu đỏ đồng chủ đạo. Sàn nhà được lót chiếu cói, bên trên lại đặt thảm thêu hoa văn, chữ Thọ hoặc biểu tượng của Đe Lửa. Cả bọn được đưa qua hàng loạt hành lang, mấy lượt cầu thang lên xuống, hết rẽ trái, rồi lại rẽ phải. Chưa kể các hàng đèn trứng, chậu hoa còn di chuyển thay đổi liên tục, khiến việc xác định phương hướng trở nên bất khả thi.
Chúng nó cứ lặng lẽ đi và đi, bước chân êm ru trên nền thảm dày rất êm chân. Mùi trầm hương từ đâu phảng phất, trong ánh sáng mờ ảo trở nên u tịch. Càng đi càng lạnh, cứ như thể đang chui sâu xuống dưới đất. Rồi tới một lúc nào đó, tất cả đột ngột dừng lại trước một căn phòng lớn với cánh cửa gỗ dày có bức phù điêu hình con chim lửa bằng đồng, biểu tượng của Đe Lửa. Bác Nguyệt đưa tay gõ ba tiếng đanh gọn lên cánh cửa dày, thanh âm vang vọng trong hành lang bằng đá đen: “Bẩm ông, cậu và các bằng hữu tới vấn an ông.”
Trả lời là một giọng nói sang sảng: “Vào đi.”
Cánh cửa gỗ lập tức trượt qua hai bên. Đăng Minh hít một hơi, trước khi theo Tùng Linh bước vào.
Thư phòng lớn với trần cao và vô số giá sách, cửa sổ lớn hướng ra một khoảng vườn nhỏ với những tán tùng liêu xiêu trong gió đêm mát rượi. Rèm tre mỏng, gần như trong suốt, hiện rõ hai chiếc đèn lồng treo ngoài hiên đang đung đưa, phả khuôn sáng ấm áp qua các nan tre vào chiếc bàn gỗ gụ lớn đã lên nước đỏ au, nơi ông của Tùng Linh đang ngồi. Trên tường phía sau lưng ông là một bức tranh thêu thủy mặc lớn, y môn màu đỏ mận chỉ vàng rất giống với sảnh chính của Đe Lửa.
Trái với tưởng tượng của Đăng Minh về dáng người vạm vỡ quắc thước như một mãnh tướng, chủ nhân của Đe Lửa là một ông lão nhỏ nhắn với gương mặt gầy gầy xương xương. Chòm râu dài chừng một gang tay, bạc trắng và cái đầu hói nhắn thín phản xạ lại ánh đèn trứng màu vàng. Ông mặc một chiếc áo kiểu cổ, mà mãi sau này Đăng Minh mới biết gọi là ‘áo giao lĩnh’, màu lam sẫm với hoa văn chìm, chân đi guốc mộc, đầu để trần.
Nhưng không vì thế mà người đối diện có thể có ý khinh khi. Một thứ hào quang kì lạ tỏa ra từ ông khiến Đăng Minh bồn chồn vô cớ. Có thể là dáng ngồi đường bệ của một con người đã và đang nắm trong tay cơ ngơi của Đe Lửa. Có thể là đôi mắt nhỏ với ánh nhìn sắc sảo gần như biết phóng điện phía sau cặp kính oval bằng kim loại. Cũng có thể chỉ là thần hồn nát thần tính.
Tay Đăng Minh liên tục mân mê vạt áo sơ mi nhăn nhúm, ánh mắt lo lắng cứ không ngừng đảo qua lại như rang lạc. Chẳng thế mà nó gần như giật bắn, khi giọng nói sang sảng lại vang lên lần nữa: “Các cháu tới rồi đấy à!”
***************************
Hết Chương X
[1] Tiếng Tày: chữ.





