Slide 1
previous arrow
next arrow

9574-phu-luc-1-phan-loai-phap-su-o-xu-khue-va-quy-luat-tuong-lien

PHỤ LỤC 1

PHÂN LOẠI PHÁP SƯ Ở XỨ KHUÊ VÀ QUY LUẬT TƯƠNG LIÊN

Tóm tắt dựa trên bản sao của Chúa Nguyệt Quý, năm 500 Thiên Kỉ Thứ Nhất, sau này được lưu giữ tại điện Bạch Dạ, thành Lĩnh Xuân. Bản gốc có lẽ đã bị huỷ hoại khi Kinh Kì Tứ Trấn bị thiêu rụi năm 530, nên khó thể đối chiếu liệu hai bản có điểm khác hay không.

1. Những khái niệm chung:

“Phép thuật” ở Xứ Khuê hiểu rốt ráo là sự tương tác và hoà hợp với các yếu tố tự nhiên. Mọi cư dân đều có tiền đề cho việc đó từ khi mới sinh, trừ một số trường hợp ngoại lệ. Tuy nhiên, họ có quyền lựa chọn: hoặc công nhận khả năng ấy và phát triển, rèn luyện với các bậc thầy giàu kinh nghiệm để trở thành pháp sư; hoặc phủ nhận nó và sống một cuộc đời bình thường. Một khi chọn con đường pháp sư, họ phải liên tục kiểm soát bản thân, giữ cân bằng tâm tưởng để yếu tố tự nhiên không nuốt chửng mình (chuyện này rất thường xảy ra khi tâm tưởng pháp sư con người dao động, bị thương, bị bệnh, song rất hiếm với hai tộc Tinh linh và Long nhân thuần chủng).

Nền tảng căn bản của phép thuật là sự tập trung tâm tưởng, mở rộng tâm trí, hoà hợp chứ không giành quyền ra lệnh/kiểm soát. Cái giá phải trao đổi khi gọi yếu tố tự nhiên là sinh lực hoặc máu.

Về hệ pháp sư, có năm hệ tuân thủ quy luật tương liên là Thuỷ – Mộc – Hoả – Thổ – Kim. Hai hệ ngoại luật (rất hiếm gặp) là Khí (có nơi gọi Phong) và Băng (có nơi gọi Giá hoặc Hàn).

Ghi chú: Tôi xếp là Thuỷ – Mộc – Hoả – Thổ – Kim theo tương sinh, và nước là khởi nguồn vạn vật nên xếp đầu, thay vì Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ như ta thường gọi. Cách này có thể hơi ngược với những người đọc không quen, nhưng nó giúp bạn tác giả não cá vàng tránh bị rối nguyên tắc tương sinh ;____;

Yếu tố tự nhiên mỗi người mang hoàn toàn ngẫu nhiên, không có quy luật rạch ròi cụ thể dù nhiều pháp sư đã cố gắng nghiên cứu. Tuy nhiên, môi trường ảnh hưởng khá lớn đến đứa trẻ chưa ra đời, tỉ như đa phần các pháp sư hệ Thuỷ sinh ra gần biển, sông hồ, hệ Thổ và Kim sinh ra gần núi, vv… Cá biệt có trường hợp yếu tố tự nhiên trong đứa trẻ thay đổi do bị ếm ngải hoặc nguyền rủa, nhưng rất ít pháp sư đủ năng lực làm điều đó. Thuỷ, Thổ, Mộc là ba hệ phép thuật phổ biến nhất ở Xứ Khuê. Có hai dòng Hoả nhận ân điển của Chiến Thần năm xưa là Thượng Thiên Hoả và Tích Lịch Hoả chỉ có thể truyền giới hạn trong dòng họ.

Về loại pháp sư, có ba loại chính:

– Chiến Sư thiên về cận chiến, sử dụng vũ khí là chủ yếu.

– Phù Sư (hay Thầy Bùa) có thể vừa chiến đấu tầm xa vừa phòng thủ, sử dụng bùa phép là chủ yếu, song lực đánh không bao giờ ngang cơ với Chiến Sư.

– Thanh Nhân (Phương Bắc gọi Thanh Sư) thuần tuý thiên về phòng thủ, tiên tri, trinh sát, chữa thương và tẩy trừ tà khí. Thanh Nhân là loại pháp sư nhạy cảm với các yếu tố tự nhiên nhất, họ ít khi bị nhân tố mình mang kiểm soát ngược. Thanh Nhân thích sử dụng vũ khí bằng gỗ. Nếu mang hệ Mộc, họ dùng chính cây cỏ làm vũ khí.

Khi phối hợp chiến đấu, Chiến Sư đứng đầu, Thầy Bùa ở giữa, Thanh Nhân xếp cuối.

Ghi chú: Dân gian quen với cách gọi Thầy Bùa hơn là Phù Sư. Tới Thiên Kỉ Thứ Hai, Phù Sư chỉ còn dùng để gọi các Thầy Bùa sa ngã, dùng ngải hại người. Bởi vậy đừng nên nhầm lẫn.

2. Quy luật tương liên căn bản (phương Bắc gọi là tương nhiên) giữa các yếu tố tự nhiên

Ghi chú: Quy luật tương liên ở Xứ Khuê có khá nhiều điểm gợi nhắc đến Ngũ Hành trong thế giới chúng ta, nhưng chúng không hoàn toàn là một, nhiều chỗ có thể không giống nhau. Độc giả chú ý đừng nên đánh đồng hoặc áp những quy luật của Ngũ Hành vào thế giới này để đánh giá, tranh cãi.

Tương sinh: Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thuỷ. Nhân tố sinh có khuynh hướng thu hút nhân tố được sinh về phía mình, kết hợp hoặc đồng hoá để mạnh hơn, ví dụ như Thuỷ thu hút Mộc. Các nhóm pháp sư được lập theo quy tắc tương sinh để tiện hỗ trợ nhau.

Tương khắc: Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ. Nhân tố bị khắc có khuynh hướng tránh xa nhân tố khắc, bị hao tổn nếu tiếp xúc lâu dài. Ví dụ như Mộc sợ và tránh xa Kim, pháp sư hệ Mộc cảm thấy khó chịu, kiệt quệ, mất sinh lực nếu ở gần pháp sư hệ Kim trong thời gian dài.

Phân loại pháp sư theo năm nhân tố tương liên:

1. Hoả:

– Hai dòng mạnh không bị Thuỷ khắc, gặp Thuỷ vừa đủ sẽ mạnh thêm: Thượng Thiên Hoả (lửa trời, ánh sáng mặt trời), Tích Lịch Hoả (sấm sét).

– Ba dòng yếu hơn, phổ biến hơn, bị Thuỷ khắc và không mạnh bằng, thường phải chiến đấu từ hai người trở lên mới phát huy hết uy lực:Phúc Đăng Hoả (lửa đèn), Lư Trung Hoả (lửa lò), Sơn Đầu Hoả (lửa trên núi), Sơn Hạ Hoả (lửa dưới núi).

2. Thuỷ:

– Hai dòng mạnh không bị Thổ khắc, chỉ các Long nhân mới có: Đại Hải Thuỷ (nước từ biển), Thiên Hà Thuỷ (nước từ trời – nước mưa).

– Bốn dòng yếu hơn, bị Thổ khắc, rất phổ biến trong giới pháp sư: Đại Lưu Thuỷ (nước sông cái), Giản Hạ Thuỷ (nước chảy ngầm), Tuyền Trung Thuỷ (nước suối), Đại Khê Thuỷ (nước khe).

3. Thổ:

– Ba loại mạnh không bị Mộc khắc, có thể hợp với Mộc vừa phải để mạnh hơn: Lộ Bàng Thổ (đất đường lộ/đất rộng), Sa Trung Thổ (đất cát), Đại Trạch Thổ (đất đầm lầy).

– Ba loại yếu hơn bị Mộc khắc, sợ nhất là hai loại Tang Đố Mộc và Thạch Lựu Mộc: Thành Đầu Thổ (đất xây thành), Bích Thượng Thổ (đất xây tường), Ốc Thượng Thổ (đất đắp nóc nhà).

4. Mộc:

– Loại Mộc duy nhất không bị Kim khắc: Bình Địa Mộc (cây trên đất)

– Năm loại Mộc còn lại đều bị Kim khắc, rất phổ biến trong giới pháp sư: Đại Lâm Mộc (cây trong rừng già/rừng lớn), Tùng Bá Mộc (cây tùng và các loại cây cổ thụ cao, vững chãi), Dương Liễu Mộc (cây dương liễu và các loại cây có thân, cành thấp, mềm mảnh, dẻo dai), Tang Đố Mộc (cây dâu tằm và các loại cây bụi, cây thân thảo, cỏ), Thạch Lựu Mộc (các loại cây rễ ngắn bám trên đá, cây sống chùm gửi, dây leo loại yếu).

5. Kim:

– Hai loại Kim hợp Hoả, không bị Hoả khắc, yếu hơn Mộc: Kiếm Phong Kim (kim trong kiếm, là loại sắc bén nhất và có sức sát thương cao), Sa Trung Kim (kim trong cát).

– Bốn loại Kim bị Hoả khắc, mạnh hơn Mộc: Hải Trung Kim (kim từ biển), Bạch Lạp Kim (kim loại nóng chảy, loại này khá yếu, thường phải dùng cùng một hệ Kim khác để bổ trợ) Thoa Xuyến Kim (kim làm trang sức, chủ yếu dùng để bổ trợ ), Kim Bạch Kim (kim được chiết tách mài giũa thành khối, loại kim tinh khiết nhất).