9944-7-pho
7
PHỐ
***
“…Sự tồn tại biệt lập giữa Mảnh Gương và Mảnh Sáng dường như đã được ‘mặc định’ từ thuở sơ khai, khi các bộ tộc mang ánh sáng muốn lập tộc riêng, không can dự tới việc nước.
Tuy nhiên, chính sự tách biệt này, qua thời gian đã dấy lên nhiều lo ngại từ phía chính quyền các Mảnh Gương (khi ấy được gọi là Vĩnh Châu). Phần đông triều đình phong kiến khi đó cho rằng, việc các bộ tộc lớn ở các Quang Châu, hay các Mảnh Sáng ngày nay, nắm giữ quyền hành và quân đội riêng biệt không những gây thất thoát tiềm lực quốc gia, mà còn có thể tiềm ẩn nhiều mối nguy hại về mặt chính trị.
Lịch sử đã ghi lại không ít lần các vua đem quân chinh phạt Quang Châu[…] Tuy từng bị chiếm giữ nhiều vị trí trọng yếu, các Quang Châu vẫn chưa bao giờ phải quy hàng. Một phần vì các châu này thường phân bố ở những nơi có địa hình hiểm trở, nhưng phần nhiều vì triều đình Vĩnh Châu thiếu kiến thức và kinh nghiệm trong chiến tranh pháp thuật.
Hao binh, tổn tướng nhưng vẫn ‘xôi hỏng bỏng không’, có thể nói Quang Châu từng là ‘cái gai’ trong mắt rất nhiều vua quan thời kỳ phong kiến.
[…] Nhằm giữ quan hệ hòa hảo với các Vĩnh Châu, tộc trưởng các Quang Châu chủ động dâng lễ vật cống tế hàng năm. Đồng thời giữ thế ‘an phận thủ thường’, không can dự vào các công cuộc binh đao, chính trị trong nước. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản dịch lưu hành trong các Mảnh Sáng, chép: ‘Bính Ngọ, Ứng Thiên, năm thứ 13 (1006), tộc trưởng Quang Châu Vân Hạc ở châu Vi Danh (nay thuộc Lũng Mây), Lý Tự, đưa người tới dâng lễ vật cầu hòa, trong đó có ngựa trắng bốn chân có cựa quý hiếm. Thuốc sắc từ bốn cựa này chữa được bách bệnh, tăng cường thể lực, bồi bổ sức khỏe. Vua rất hài lòng, đồng ý không đem quân đánh Vân Hạc.’
Các Quang Châu khác cũng thấy vậy mà theo. Quan hệ Vĩnh-Quang nhờ đó mà giữ được thế cân bằng tới hàng trăm năm.
[…]Năm Thiệu Bảo thứ sáu, tức năm 1283, ‘Vĩnh-Quang Khế Ước’ được kí kết giữa triều đình Trần Nhân Tông hoàng đế và người đứng đầu các Mảnh Sáng khi đó, chính thức đưa sự tồn tại bí mật của các Quang Châu vào ghi chép dưới dạng văn bản. Khế ước đã quy định rõ giới hạn địa lý của các Quang Châu, đồng thời đưa ra những quy định khắt khe với người dân Quang Châu, nhằm bảo vệ sự bí mật của các Mảnh Sáng. Cũng theo khế ước này, các văn tự lịch sử sẽ được hiệu đính, chỉnh sửa thành hai phiên bản riêng biệt, lưu hành biệt lập trong Quang Châu và Vĩnh Châu.
[…] Trong thời kỳ hiện đại đổi mới, mối quan hệ giữa các Mảnh Sáng và Mảnh Gương vẫn luôn được duy trì chặt chẽ, dưới cả hình thức hữu nghị và quan hệ chiến lược. Năm 2000, chính quyền Mảnh Sáng lần đầu tiên nhận lời đề nghị mở cửa thông thương du lịch với các Mảnh Gương, chính thức mở ra thời kỳ phát triển kinh tế song song, cho dù các Mảnh Sáng vẫn tiếp tục tồn tại trong bí mật…”
-trích ‘Quan Hệ Giữa Mảnh Gương và Mảnh Sáng: Lịch Sử và Cơ Hội’ của tác giả Giàng A Buộc, 1996, tái bản và hiệu đính năm 2004-
***
Đăng Minh tỉnh dậy từ ba giờ sáng. Nó không tài nào ngủ tiếp được.
Gác một tay lên trán, Đăng Minh nằm suy nghĩ. Ánh mắt nó vô tình chạm phải ánh sáng le lói màu xanh phát ra từ chiếc đèn dầu trên bàn.
Chiều hôm trước, Tùng Linh đã dẫn nó và Hạnh đi mua đèn. Thằng này cũng đã chỉ luôn cho Hạnh biết pang ki của con bé chính là chú chim sẻ nhỏ cứ lẽo đẽo đi theo Hạnh từ hôm bọn nó lên Thác Bạc.
“Đốm Hạc,” Đăng Minh nhớ lại những lời giải thích của Tùng Linh khi vào một cửa tiệm lớn hai tầng lợp ngói âm dương. “Thường là một cái đèn dầu, là nơi ở của các pang ki… nói nôm na thì… như một cái lồng ấy… Nhưng các pang ki có thể ra vào tùy ý. Đốm Hạc có rất nhiều công dụng khác nhau, dần dần mọi người sẽ biết…”
Đăng Minh nhắm mắt. Nó nhớ lại từng dãy giá bằng gỗ dài bày la liệt các loại đèn với kích cỡ, hình sáng, màu sắc, chất liệu khác nhau bên trong cửa hàng mà Tùng Linh đưa chúng nó tới. Cửa tiệm của Đe Lửa, hay xưởng rèn chế tác Đốm Hạc lớn nhất Lũng Mây. Thiết kế phổ biến nhất là chao đèn bằng kính trong suốt, đế bằng đồng gắn đôi cánh chim hạc cách điệu. Có lẽ cái tên ‘Đốm Hạc’ cũng từ đó mà ra. Bên cạnh đó còn có vô số các kiểu dáng trang trí khác như hoa lá, con vật. Đăng Minh đã chọn đại một chiếc đèn dầu tối giản có khung bằng đồng, trông không khác gì chiếc đèn thời bao cấp giờ chỉ còn được trưng trong vài điểm quán cà phê theo phong cách hoài cổ. Trong khi Hạnh chọn một chiếc đèn nhỏ hơn, với chụp đèn thủy tinh thon dài như nụ hoa chúm chím và cánh hoa sen mềm mại màu vàng hồng xòe ra xung quanh.
Dĩ nhiên, đi cùng cậu chủ Đe Lửa, chuyện tiền nong tụi nó chẳng phải lo.
“Phần quan trọng nhất của Đốm Hạc,” Tùng Linh tiếp tục giải thích khi ra khỏi cửa hàng. “Không phải là vỏ đèn bên ngoài, mà là đá Then[1], còn gọi là đá trời, ở trong Đốm Hạc. Đá Then cần được lựa chọn cẩn thận để thích hợp với slim ki của chủ nhân và pang ki… Cái này ở Lũng Mây không đâu bằng hiệu Ông Phja…” Vừa nói, Tùng Linh vừa thoăn thoắt dẫn Hạnh và Đăng Minh tới một cửa hàng khác, nhỏ và xập xệ hơn, chen giữa hai tòa nhà lớn. Tấm biển chữ Hán bằng gỗ treo trước hiên thay cho quyển thư đã xộc xệch, hàng chữ từng là tên cửa tiệm, qua bao sương gió đã mờ tịt đến không còn nhìn ra nét. Chiếc cửa gỗ nâu cọt kẹt như thể cả chục năm chưa có người đụng đến, rên lên cả tràng khi bị đẩy qua một bên. Bên trong cửa hàng, ánh sáng leo lét từ ngọn đèn trứng bé xíu chỉ đủ để chúng nó không đập mặt vào hàng dãy kệ, hộp la liệt khắp nơi.
Ông Phja, nếu đúng tên gọi của chủ cửa hàng là như thế, là một ông lão già khọm, lưng còng gập sát đất. Lão mặc một chiếc áo viên lĩnh màu lam sẫm, hoa văn bát bảo, vấn khăn, chân đi guốc mộc loẹt quẹt. Râu lão dài cả tấc, rung rung theo nụ cười móm mém, lão cất giọng khò khè: “Ai đấy? Nhà chưa hết gạo nhé!”
“Bọn cháu tới mua đá ông ơi,” Tùng Linh vội đáp, thuận tay mở rộng cánh cửa gỗ thêm tí nữa lấy đường cho tụi nó vào. Phải nói tới lần thứ ba, ông lão mới hiểu tụi nó không tới để giao gạo. Biết vậy rồi, lão mới loẹt quẹt lê guốc về phía chiếc quầy gỗ ở góc nhà, móc ra cặp kính cũ kĩ, rồi chậm rãi đeo lên.
Ánh mắt lừ lừ quét qua mặt bọn trẻ, dừng lại ở Đăng Minh, lão hất đầu hỏi: “Pang ki của cháu đâu?”
“Dạ…” Đăng Minh bối rối gãi đầu. “Nó… nó không có ở đây ạ…”
Buổi sáng đó, khi nó ra khỏi nhà thì con chim khổng lồ vẫn còn đang nằm trong góc phòng Đăng Minh mà ngủ ngon lành. Mặc cho thằng này tìm mọi cách đánh thức nó dậy, con vật vẫn thản nhiên ngủ vùi. Chả hiểu các pang ki thường phải tuân lệnh đi theo chủ nhân thế nào, chứ con chim quái đản thực sự chẳng coi Đăng Minh ra gì hết. Hứng lên, nó đuổi Đăng Minh chạy trối chết trong rừng cho vui, rồi hết hứng, nó lại cứu thằng này khỏi vách núi mang về tận Đe Lửa. Nó chẳng quan tâm tới những gì Đăng Minh nói, cũng như không để ý tí gì tới việc Đăng Minh đi đâu, làm gì. Và thế là mặc cho Đăng Minh ra sức thuyết phục, ra lệnh, đe nẹt, con vật cứ thản nhiên ở nhà, kệ bọn trẻ dẫn nhau vào làng.
Đăng Minh khổ sở giải thích, cũng ít nhiều thấy ngượng, dù lỗi không phải của nó. Lão Phja đưa mắt nhìn nó ngán ngẩm, chả hiểu các ‘chủ nhân’ bất tài như nó, lão có thường xuyên gặp phải không, nhưng nhìn lão có vẻ như đã bó tay tới chán chả buồn nói gì nữa.
Nhìn Đăng Minh từ đầu tới chân, rồi lại từ chân lên đầu, lão lắc đầu, rồi ngửa một tay ra trên mặt quầy gỗ: “Đưa tay cháu đây.”
Đăng Minh đặt một tay vào tay lão, nín thở chờ đợi. Nó giật bắn khi thấy từ đâu một đàn bướm trắng sáng lóa bay vọt tới ngay trước mặt, lượn lờ rồi tụ lại trên tay lão già. Đăng Minh hít vào một hơi, có lẽ đàn bướm trắng này là pang ki của lão. Nó chăm chú nhìn thứ ánh sáng kì diệu nhảy múa trước mặt, những nơi đàn bướm đậu lại trên tay mát rượi, như cảm giác chạm vào sàn đá hoa cương giữa mùa đông của Hà Nội.
“Nước,” ông lão nhắm mắt, chậm rãi nói. Rồi chỉ như thế, lão quay đi lục tung đống hộp trên giá lôi ra đủ thứ hộp lớn nhỏ bày trước mặt Đăng Minh.
Đăng Minh đưa mắt dè dặt nhìn đống đá lủ khủ trước mặt. Cảnh này hình như nó đã thấy trên tivi trong một bộ phim giả tưởng nào đó. Theo như trên phim thì có lẽ nó phải ‘thử’ từng hòn đá một cho tới khi chọn được hòn đá tương thích. Nhưng nó lại không biết mình cụ thể nên làm gì để thử. Chọi bừa hòn đá vào đâu đó hẳn không phải là câu trả lời. Lúng túng, nó đưa tay ra định cầm đại lấy một viên.
“Dừng lại,” ông lão vội vã quát giật. “Cháu làm gì thế? Không được động vào. Đứng yên đó.”
Giật mình, Đăng Minh tẽn tò rụt tay lại. Nó ngượng ngùng đưa hai tay nhét túi quần. Phải đứng yên giữa một đống đá lớn nhỏ trong lúc người khác cứ nhìn nó chằm chằm, mà nó thì lại không hiểu mình đang chờ đợi cái gì, thực sự có chút khó xử. Nó ngước nhìn ba đứa còn lại, thấy chúng nó cứ tủm tỉm cười thì lại càng thấy lúng túng. Hết nghiêng sang trái, nó lại đánh người sang phải, chỉ mong ai đó nói gì đó. Có tới khoảng mười phút sau, lúc nó đã không thể chịu nổi, mở miệng định kiên quyết phản đối cái chính sách như thể trồng cây không đất này, thì một hòn đá màu đen tuyền trước mặt nó thình lình phát sáng.
Những đường vân màu trắng ngoằn ngoèo rực lên một màu xanh chói mắt.
Đăng Minh há hốc, không tin nổi vào mắt mình. Nó chớp chớp mắt mấy lần để đảm bảo mình không nhìn nhầm. Nếu không phải có quá nhiều khán giả đứng đó, nó đã đưa tay lên dụi mắt hoặc tự … tát cho mình một cái xem có đang nằm mơ hay không rồi. Hòn đá tiếp tục sáng chói lòa như thế cả phút nữa rồi mới từ từ dịu xuống, nhưng vẫn âm ỉ một màu xanh lam nhạt.
“Là đứa con của Nước, nhưng lại mang sứ mệnh bảo vệ Lửa,” giọng lão chủ tiệm trầm đặc, không rõ là đang hen suyễn hay xúc động.
Đăng Minh đưa mắt nhìn Tùng Linh, như muốn ngầm hỏi xem ông lão đang lẩm bẩm cái gì. Nhưng thằng này cũng rõ ràng chẳng hiểu gì, nên Đăng Minh đành thôi. Nó nhận hòn đá từ tay ông lão, cẩn thận cho vào túi đeo vai.
Tới lượt Hạnh, ông lão chủ tiệm cũng làm y chang như với Đăng Minh. Nhưng thay vì đưa ra cả đống đá lỉnh kỉnh, lão lọ mọ lấy ra một chiếc hộp nhỏ duy nhất có một viên đá màu xanh rêu đưa cho con bé. Hạnh vui vẻ nhận lấy viên đá từ tay ông lão rồi cùng tụi còn lại đi về.
Về tới nhà, Tùng Linh tiếp tục hăng hái hướng dẫn tụi nó để hòn đá trời vào Đốm Hạc. Xong xuôi, vừa đặt được chiếc Đốm Hạc xuống bàn, thì con chim quái vật từ đâu thình lình xuất hiện, nhằm Đăng Minh mà lao thẳng tới. Đăng Minh há hốc, quýnh quíu đưa tay lên bảo vệ đầu. Nhưng nó không hề bị bị con quái húc tung lên nóc nhà, con vật hóa thành ánh sáng màu xanh lam, chui tọt vào chiếc đèn dầu bé tí.
Và ở lì đó thì khi ấy tới giờ.
Đăng Minh ngồi dậy, nghiêng đầu nhìn chiếc đèn dầu thời bao cấp đang tỏa ánh sáng leo lét khi tỏ khi mờ theo từng nhịp thở phập phồng của con vật trên bàn.
Lại cảm thấy tình cảnh hiện tại của mình thật vô cùng khó tin.
Bắt đầu từ cái thứ gọi là Đường Đến, trong nháy mắt đã vô tình đưa tụi nó vượt cả trăm cây số từ Hà Nội tới tận nơi địa đầu Tổ quốc là tỉnh Hà Giang. Rồi thì sự xuất hiện của cô gái có đôi mắt mèo. Rồi pang ki của nó, con chim khó chiều khó chịu. Rồi còn cả Ngọn Sáp, cái cây khổng lồ mang sự sống trong hình hài của cái chết.
Đăng Minh thở dài. Bộ óc thiên tài của nó không ngờ cũng đến lúc trở nên vô dụng. Khi những thứ vô lý đùng đùng cứ thi nhau diễn ra, đạp đổ hết tất cả những giá trị nó từng biết, từng hiểu, thậm chí từng tôn thờ.
Từ hôm kia, lúc nào nó cũng ở tình trạng há hốc, á khẩu, đi tới đâu cũng ngơ ngơ ngác ngác, nhìn cái gì cũng cảm thấy kì diệu, chẳng khác nào kẻ nhà quê mới lên tỉnh, lần đầu tiên nhìn thấy ánh sáng văn minh nhân loại. Thế giới quan của nó đảo lộn tứ tung. Tất cả những gì nó biết trở nên vô dụng, những điều nó từng cho là vô lý lại được coi là bình thường như cân đường hộp sữa. Mọi thứ xung quanh bỗng chốc trở nên hoang đường, nhưng cũng vì thế mà trở nên hợp lí vô cùng.
Cứ như chỉ có mình nó trước nay là con ếch ngồi đáy giếng, tưởng mình biết tất cả, thực ra lại chẳng hề biết gì hết.
Đăng Minh mím môi. Suy nghĩ khó chịu ấy khiến đứa kiêu hãnh như nó cảm thấy ngứa ngáy không yên.
Không ngủ được, nó chỉ còn cách dậy đi loanh quanh. Hết ra ngoài sân, lại trở lại vào nhà.
Tới lúc này, nó mới ngạc nhiên nhận ra rất nhiều thứ mà lẽ ra nó đã phải để ý, nhưng không hiểu vì lý do gì lại bỏ qua. Đăng Minh tự hỏi vì sao mấy ngày qua nó hoàn toàn không nhìn ra những sinh vật với ánh sáng dìu dịu nhiều màu lởn vởn trên khắp các vòm cây, mái nhà, những chiếc đèn trứng lơ lửng trôi nổi khắp nơi dù chẳng hề được treo lên. Hay nó cũng không hề nhìn thấy những chiếc chổi ‘ma thuật’ lượn lờ khắp nơi tự quét sân vườn. Thậm chí cả chậu cây cảnh nhỏ treo nơi xà nhà ngay trong phòng, hôm nay Đăng Minh mới lần đầu tiên nhìn thấy những bông hoa mảnh khảnh màu trắng phóng ra với tốc độ ánh sáng, chộp trúng một con bọ bay qua. Những vệt loang lổ màu xanh tím trên cánh hoa vốn không phải là hoa văn tự nhiên, mà chỉ là những gì còn sót lại từ các bữa ăn xấu số của cái cây háu đói.
Tất cả những thứ đó, rõ ràng lúc nào cũng mồn một trước mắt Đăng Minh, nhưng nó lại không hề nhìn thấy. Hay nói cho đúng là không muốn nhìn thấy.
Đăng Minh khịt mũi. Nó cảm tưởng như thời gian qua mình đã lượn lờ qua lại nơi này trong tình trạng bị bịt mắt.
Dải băng bịt mắt của thành kiến và sỹ diện của một thằng nhóc ‘thành thị’ về cái nơi nó gọi là ‘rừng rú lạc hậu’.
***
Chú Pàng Chung sai Cháng qua gọi Đăng Minh và Hạnh dậy ăn sáng lúc gần tám giờ. Khi tụi nó vào phòng ăn thì Tùng Linh đã có mặt, trang phục chỉnh tề, ngồi chờ sẵn.
Cũng phải nói thêm là từ lúc Tùng Linh lên tiếng ‘la làng’ về thực đơn quái gở của chú Pàng Chung, các bữa ăn hàng ngày bắt đầu trở nên ‘bình thường’ hơn rất nhiều. Bữa sáng hôm nay có ngô lựu luộc, xôi bảy màu ăn với thịt gà rang mặn và nước mận đỏ au thơm lừng.
Sáng nay, theo lời đề nghị của Hạnh, Tùng Linh sẽ đưa tụi nó vào thành phố Hà Giang để gọi điện thoại về cho gia đình. Lũng Mây là nơi tiên tiến phát triển, nhưng mạng lưới điện quốc gia không mắc tới đây, cũng như chẳng có người đưa thư nào trèo đèo lội suối vào được tới Ngọn Sáp. Người Mảnh Sáng lại liên lạc với nhau bằng những hệ thống khác biệt hoàn toàn, chứ không dùng tới điện hay Internet. Vì thế mà cách duy nhất để hai đứa nó báo tin về cho gia đình là phải tới thành phố Hà Giang.
“Các bạn cứ ăn uống thoải mái,” Tùng Linh tươi cười. “Lái xe chín giờ mới tới.”
“Lái xe?” Cả Hạnh và Đăng Minh đều tròn mắt: “Ở đây mọi người cũng đi bằng ô tô à?”
“À, không hẳn,” Tùng Linh đáp. “Nhưng thành phố Hà Giang là Mảnh Gương. Giao thông công cộng của Lũng Mây không đi tới đó. Phương tiện giao thông cá nhân thì bị cấm ra khỏi Mảnh Sáng vì sẽ gây sự chú ý. Nên người ta hay thuê xe ô tô đi du lịch ngắn ngày để tham quan Mảnh Gương. Các bạn là người Mảnh Gương, nên tôi không thuê hướng dẫn viên, chỉ cần lái xe thôi…”
“Du… du lịch tới… Mảnh Gương…” Đăng Minh bỡ ngỡ nhắc lại.
“Ừ,” Tùng Linh mỉm cười, ôn tồn giải thích thêm. “Nhiều người Mảnh Sáng có hứng thú với Mảnh Gương lắm. Trường Sơ Cấp Ngọn Sáp từ ba năm nay còn tổ chức dã ngoại đến hai, ba ngày để học sinh trải nghiệm cuộc sống ở Mảnh Gương nữa cơ…”
“Sao… sao người Lũng Mây lại hứng thú với cuộc sống ở Mảnh Gương làm gì?” Đăng Minh ngắt lời Tùng Linh.
“Thì ở đó không tồn tại của slim ki,” Tùng Linh cười. “Là trải nghiệm mới mẻ với những người sinh ra lớn lên ở Mảnh Sáng như tôi. Cũng là để cho học sinh biết trân trọng hơn những gì mình có nữa…”
“Tao… tao thèm vào mấy cái tour du lịch ấy của mày,” vẫn không để Tùng Linh nói hết câu, Đăng Minh đột ngột xẵng giọng. Cảm thấy máu nóng đang dồn lên đến tận đầu khiến nó nuốt không trôi bữa sáng ngon lành hiếm hoi kể từ ngày nó đặt chân tới Lũng Mây.
Thế rồi chẳng nói gì thêm, nó bỏ ngang bữa, bước thẳng ra ngoài, bỏ ngoài tai tiếng Tùng Linh ngạc nhiên nói với theo: “Ơ kìa, anh làm sao thế? Tôi đã nói là chỉ thuê lái xe, chứ không thuê hướng dẫn viên du lịch cơ mà?”
***
Đăng Minh ngồi lẩn thẩn ở hiên sau Đe Lửa tới cả chục phút, cố gắng nuốt cho trôi cái cục tức đang chẹn ngang cổ họng. Lúc Hạnh tìm được nó, thằng này đang trút cơn giận bằng cách ném sỏi theo một con khỉ con với ánh sáng màu đỏ nhè nhẹ vắt vẻo trên cành cây trước sân. Pang ki của một ai đó. Con khỉ ranh mãnh né những viên sỏi một cách điệu nghệ, chuyền từ cành này sang cành khác, thậm chí còn cố tình le lưỡi trêu tức Đăng Minh.
“Cậu đang làm gì đấy?” Hạnh cười khúc khích.
“À…” Đăng Minh lắp bắp, đưa tay lên gãi đầu. Tự dưng thấy mất hình tượng kinh khủng. Mặc dù từ ngày tới Lũng Mây, nó hẳn đã chẳng còn tí hình tượng nào để mất nữa rồi.
“Cậu sao thế?” Hạnh ân cần hỏi, giọng nói dịu dàng làm đầu Đăng Minh nguội đi quá nửa.
“Có sao đâu…” Đăng Minh lầm lì.
“Có sao mà,” Hạnh cười. “Nói đi. Sao tự dưng đang ăn cậu lại chạy ra đây thế? Linh nói gì sai à?”
“Cậu không thấy nó nói gì sai à?” Đăng Minh độp ngay.
“Không thấy,” Hạnh lắc đầu, vẫn rất điềm đạm. “Cậu ấy chỉ đang giải thích về các tour du lịch tới Mảnh Gương thôi mà?”
“Thì chính là ở chỗ đó đó,” Đăng Minh hừ giọng. “Cái gì mà trải nghiệm cuộc sống… rồi trân trọng những gì mình đang có… Cậu không thấy cách nó nói tới người Mảnh Gương rất thiếu tôn trọng à? Cứ như thể mình là loại ăn lông ở lỗ, lạc hậu chậm tiến ấy. Cái cảnh người Mảnh Sáng diễu qua diễu lại xem xét cuộc sống của mình như xem… khỉ trong sở thú, cậu không thấy tức à?”
“Tớ không nghĩ Linh có ý đó đâu…” Hạnh nhẹ nhàng.
“Thì chính nó không có ý nói thế mới thành vấn đề,” Đăng Minh rít qua kẽ răng, giọng nó càng ngày càng bức xúc. “Tức là cái lối suy nghĩ về Mảnh Gương đó đã ăn vào máu của nó rồi. Nó thậm chí còn không nhận ra chỉ bằng việc ‘đi du lịch’, nó đang xâm phạm sự riêng tư của người Mảnh Gương, coi con người không khác gì con khỉ đó.”
Hạnh bật cười trước hình ảnh so sánh hoạt kê của Đăng Minh. Nhưng nhìn mặt mũi thằng này càng lúc càng tím tái như thiếu ô-xy, nó chỉ còn biết câm nín. E hèm một tiếng, Hạnh ôn tồn: “Cậu cả nghĩ rồi. Ý của Linh chỉ nói tới sự khác biệt về cuộc sống ở Mảnh Gương và Mảnh Sáng thôi. Người thành phố cũng hay đi mấy tour du lịch đi trải nghiệm cuộc sống của các đồng bào dân tộc miền núi đấy còn gì?”
So sánh của Hạnh làm Đăng Minh á khẩu mất mấy giây.
“Nhưng…nhưng…” Đăng Minh cố cãi lại, “…nhưng đó là vì họ là người dân tộc lạc hậu thật… so với thành phố thì họ ăn lông ở lỗ còn…còn gì…”
Tới đây thì Hạnh thốt nhiên im lặng. Con bé mím môi, nhìn Đăng Minh đăm đăm. Rồi mãi sau mới lên tiếng: “Tớ hiểu rồi…”
“Hiểu… hiểu… cái gì?” Đăng Minh nhíu mày.
“Cậu đang thấy tự ti về việc mình là người Mảnh Gương,” Hạnh đáp.
“Cái… cái gì?” Đăng Minh há hốc trước kết luận thình lình của Hạnh. “Ở… ở đâu ra…”
“Cậu cho rằng người Mảnh Sáng là ‘cao cấp’ hơn, ‘ngầu’ hơn. Lại sợ Linh cũng nghĩ vậy, nên mới nhạy cảm đến thế.”
“Làm… làm gì có…” Đăng Minh ré lên. Ấm ức quá, nó cứ líu cả lưỡi lại: “Cái… cái gì… mà tự ti với không… tự ti… Tớ chả bao giờ…. chả bao giờ nghĩ thế… cậu đừng suy diễn… Mà… mà sao tớ phải tự ti? Tớ… tớ đâu phải người Mảnh Gương bình thường? Tớ là người ‘Kinh Thành’ hẳn hoi cơ mà?”
“Kinh Thành?” Hạnh nhíu mày.
“Người Lũng Mây gọi Hà Nội như thế đấy,” Đăng Minh ưỡn ngực, thoắt tự tin trở lại. “Là cậu chưa biết, chứ con dân Thủ Đô như mình ở đây cũng ‘có giá’ lắm chứ đùa!”
Hạnh nhìn Đăng Minh một lát nữa, định nói gì đó rồi thôi. Sau cùng thở hắt ra: “Đừng quan trọng hóa việc mình từ đâu tới như thế… mấy thứ đó… sẽ tới lúc cậu nhận ra chẳng có ý nghĩa gì đâu…”
“Ơ hay…” Đăng Minh khịt mũi, ngạc nhiên. “Tớ đã bảo là tớ không…”
“Ừ, không thì tốt,” Hạnh mau mắn cười xòa. “Thôi vào ăn sáng nốt đi, đừng để Linh phải chờ.”
Nói rồi cứ thế đứng dậy đi vào trong nhà.
Đăng Minh nhìn theo Hạnh, không biết nên nghĩ gì cho đúng.
Nó thở hắt ra, co cẳng sút vào một viên sỏi trên mặt đất. Con khỉ con đang ngồi trên cành cây mận là là góc sân, liệng người một cú điệu nghệ tránh viên sỏi. Được thể nhào lộn thêm mấy vòng như đang cố ý trêu ngươi chọc tức Đăng Minh thêm chút nữa.
***
Đường lên thành phố Hà Giang xa hơn Đăng Minh tưởng rất nhiều lần. Mang tiếng là địa danh Mảnh Gương gần nhất, nhưng chúng nó cũng phải mất tới gần ba tiếng đi xe. Đường núi ngoằn ngoèo khó đi khiến cả Tùng Linh và Hạnh say xe gần chết, đứa nào cũng nôn thốc nôn tháo. Đăng Minh dù đã quen đi ô tô đường dài cũng vẫn không khỏi cảm thấy nôn nao. Chưa kể sương mù giăng kín những khúc cua tay áo khiến tim nó không ngừng đập thình thình như trống trận.
Chỉ có vị tài xế trẻ tuổi của tụi nó là tỉnh rụi từ đầu tới cuối. Như thể anh đã quá quen với những con đường chìm trong sương phủ không nhìn được dù chỉ một mét trước mặt. Đăng Minh đoán anh ta phải có bí quyết ‘ăn gian’ bằng phép thuật nào đó. Nhưng không nhìn ra được, chỉ thấy anh phi tới phăm phăm, thản nhiên lượn tránh các xe đi ngược chiều chỉ trong tích tắc, mặc cho các hành khách phía sau gào thét điên cuồng.
Đăng Minh cảm tưởng nó phải tổn thọ tới gần chục năm khi tới được thành phố Hà Giang. Tùng Linh và Hạnh xuống xe, mặt cắt không còn hột máu. Ba đứa thất thểu lôi nhau đi vào bưu điện thành phố.
Mẹ của Đăng Minh đã bật khóc gần như ngay khi nghe thấy tiếng thằng này qua điện thoại, khó khăn lắm nó mới trấn an được mẹ. Mặc dù đã thống nhất bàn bạc kĩ lưỡng với Hạnh về việc nói gì với các phụ huynh, nhưng Đăng Minh cũng tốn gần cả tiếng đồng hồ thuyết phục mẹ cho nó tham gia vào ‘công tác nghiên cứu hỗ trợ các đồng bào vùng cao’ của trường. Chỉ tới khi nó thề thốt tới lần thứ ba mươi bảy về việc sẽ trở lại Hà Nội trước ngày nhập học, mẹ nó mới chịu để yên cho nó gác máy, không quên dặn dò nó ăn uống đầy đủ, giữ ấm đừng để ốm.
Đăng Minh thở phào khi vừa đặt được ống nghe xuống, cổ họng nó khô rang, chưa bao giờ nó phải nói liên tục trong thời gian dài như thế.
Nó quay ra, thấy Hạnh và Tùng Linh đều đang đứng chờ từ lúc nào. Khác với hoàn cảnh của Đăng Minh, bố mẹ Hạnh không hề gây khó dễ cho con bé. Chỉ cần biết Hạnh đang sống khỏe, bố mẹ nó dễ dàng để nó ở lại Hà Giang xa xôi làm ‘tình nguyện’, cũng chẳng thắc mắc gì thêm.
Ba đứa ra khỏi bưu điện thành phố khi trời đã quá trưa. Nắng vàng phả xuống đầu, xuống cổ, nhưng không hề nóng bức. Cái lạnh se se của vùng cao thực sự làm người ta có hứng hít thở không khí trong lành.
Đi dạo chưa đầy mười phút thì Hạnh đã lập tức sa đà vào mấy hàng quần áo bên đường. Đăng Minh và Tùng Linh cũng lượn lờ ngó nghiêng chút ít. Nhưng chỉ được dăm phút, hai đứa nó đã ngồi bó gối trước cửa tiệm. Trông chúng nó chẳng khác gì mấy thằng đi theo chỉ để xách đồ. Tới khi Hạnh thử tới chiếc váy thứ năm, thì Đăng Minh dần mất kiên nhẫn. Nó bỏ mặc Tùng Linh ở lại giữ đồ cho Hạnh, đi dạo mấy khu phố xung quanh cho bớt cuồng cẳng.
Thành phố Hà Giang, nói là thành phố, nhưng so với Hà Nội thì hoàn toàn không nhộn nhịp bằng. Xe máy trên đường thưa thớt hơn, các hàng quán cũng ít và nhỏ hơn. Những dẫu thế nào vẫn giống với Hà Nội hơn Lũng Mây rất nhiều. Đăng Minh nheo mắt. Mới rời khỏi Hà Nội có mấy ngày thôi, mà Đăng Minh cảm tưởng như cả thế kỉ đã trôi qua. Nó chậm rãi ngắm nhìn nhà cửa, xe cộ, ngầm so sánh với Lũng Mây. Tuy không có nhà cao tầng chi chít, kiến trúc cũng theo phong cách cổ, nhưng Lũng Mây vẫn đem lại cảm giác của một thành phố hiện đại, à nhầm, một ‘cái làng’ hiện đại, được quy hoạch rõ ràng, hoàn chỉnh. Cổ kính nhưng không hề lạc hậu. Thậm chí hình như còn hiện đại hơn cả ‘thành phố’ mà nó vẫn biết.
Đăng Minh đi lại, suy nghĩ miên man.
Thế rồi bất chợt một bóng dáng quen thuộc lướt qua nơi khóe mắt.
Chiếc áo Piêu bằng thổ cẩm màu chàm với những đường hoa văn nổi, mái tóc bông xù buộc gọn bằng một sợi thừng nhỏ nhiều màu, gò má ửng hồng trên nước da ngăm ngăm đặc trưng của con gái miền núi.
Và đôi mắt màu xanh bạc trong vắt với con người dọc của loài mèo.
Đăng Minh đứng sững người vài giây. Lập tức quay người gọi với theo.
*************************
Hết Chương 7
[1] Tiếng Tày: trời.





