Slide 1
previous arrow
next arrow

6663-xii-thac-dem

“…Khác với các Vĩnh Châu, Quang Châu không nằm dưới sự cai quản của nhà vua, cũng không có người đứng đầu chung. Mỗi Quang Châu vận hành dưới bộ máy nhà nước riêng biệt và cũng tương đối khác biệt. Thường không can dự tới chuyện binh đao của các quốc gia.

[…] Năm Nguyên Phong thứ bảy (tức năm 1258), dưới triều đại vua Trần Thái Tông, quân đội của Đế Quốc Mông Cổ do Uriyangqatai, còn gọi là ‘Cốt Đãi Ngột Lang’, chỉ huy tràn xuống Đại Việt, mang theo đội ‘pháp binh’ hùng hậu gồm các ‘Shaman’, hay pháp sư Mông Cổ, hùng mạnh nhất. Không kịp trở tay, quân đội nhà Trần, dù được thao luyện binh đao kỹ lưỡng, vẫn đại bại trong trận Bình Lệ Nguyên (nay thuộc địa danh Mảnh Gương là tỉnh Thái Nguyên).

Lo lắng trước nguy cơ mất nước, đức vua đã đích thân tới gặp thủ lĩnh tối cao của ba Quang Châu lớn mạnh nằm trong địa phận nước Đại Việt khi ấy là Thiên Tụ (nay là Đỉnh Trời), Vân Hạc (nay là Lũng Mây) và Thăng Long (tức Kinh Thành). Sử sách không ghi chép lại trao đổi giữa nhà vua và các thủ lĩnh, nhưng Vân Hạc và Thăng Long, sau năm ngày đàm phán, đã quyết định mang quân giúp sức cho binh lính nhà Trần, phá vỡ tiền lệ ‘an phận thủ thường’ của các Quang Châu từ ngàn đời.

[…] Đội pháp binh Shaman của quân Mông Cổ hoàn toàn thất thủ dưới tay quân liên minh Vân Hạc – Thăng Long. Đặc biệt, qua trận chiến này, thủ lĩnh quân đội Vân Hạc là Ma Thanh Địch lần đầu lộ diện, mang theo Ngọn Lửa Đen – Hắc Hỏa huyền thoại của dòng họ Ma Thanh ra trận. Cuốn ‘Shaman trong chiến trận’ của tác giả Mông Cổ Khabul Khan ghi lại nỗi kinh hoàng của các Shaman khi ấy như sau: ‘…ngọn lửa đen đặc như bóng đêm, không ‘cháy’ mà ‘chảy’ cuồn cuộn, nuốt chửng tất cả những gì nó chạm vào, cho tới khi thứ đó hoàn toàn tan thành tro bụi…’

Nhà Trần đại phá quân Nguyên Mông trong trận Đông Bộ Đầu, ghi vào lịch sử kỳ tích lần đầu tiên một nước tiểu bang như Đại Việt khuất phục được vó ngựa Đế Quốc Mông Cổ….

[…] Mậu Dần, Thiệu Bảo năm thứ Nhất (tức năm 1278 sau Công Nguyên), Trần Nhân Tông Hoàng Đế lên ngôi, rất quan tâm tới việc cầm quân chống giặc ngoại xâm và dẹp yên loạn lạc trong nước. Đặc biệt hết sức chú trọng công tác bang giao với các Quang Châu trong ngoài lãnh thổ.

Sách ‘Phật Hoàng Thiên Sử’ của sử gia Lê Văn Hưu có chép: “…Vua là con của Thánh Tông Tuyên Hiếu Hoàng Đế, người đứng đầu các Vĩnh Châu, và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Hậu, kẻ nắm quyền Quang Châu lớn nhất là Kinh Thành. Như thiên mệnh sinh ra trong cường thịnh để hợp nhất các Quang Châu. Sau khi lên ngôi, lại chính thức tiếp quản Kinh Thành trong tay, càng như hổ mọc thêm cánh. Tới năm Thiệu Bảo thứ Năm thì thống nhất các Quang Châu dưới một bộ máy hành chính cao nhất của Kinh Thành…”

Trận chiến Nguyên Mông – Đại Việt lần Hai cũng chính là trận chiến chính thức đầu tiên của quân đội Quang Châu hợp thể, dưới sự chỉ huy của tướng Ma Thanh Địch và con trai Ma Thanh Đầu.

Đại Việt đại phá quân Nguyên Mông lần thứ hai, Ngọn Lửa Đen của dòng họ Ma Thanh cũng chính thức ghi danh vào lịch sử, trở thành huyền thoại của Vân Hạc, hay Lũng Mây ngày nay, từ đó…”

-trích ‘Huyền Thoại Suối Đêm’ của Lò Linh Đan, 1987, tái bản và hiệu đính lần 3 –

 

***

Trong suốt hàng trăm năm, trải qua bao binh đao loạn lạc, Ngọn Lửa Đen chính là thứ bảo vệ Lũng Mây khỏi sự xâm lăng, cũng chính nó đã đưa Lũng Mây lên vị trí độc tôn sau sự sụp đổ của Kinh Thành. Sau này, một cha xứ người Pháp trong một lần tới thăm Lũng Mây, tận mắt chứng kiến ngọn lửa kì lạ, không ‘cháy’, mà ‘chảy’ cuồn cuộn như một thứ nhựa đường, đã đặt cho nó cái tên là ‘Suối Đêm’.

Đáng tiếc, hòa bình không tồn tại lâu. Khi dòng họ Ma Thanh, cùng một vài dòng họ khác đã ngấm ngầm lập nên kế hoạch lật đổ chính quyền Ngọn Sáp. Chiến tranh nổ ra. Quân đội hùng hậu của Lũng Mây, dù hoàn toàn áp đảo lực lượng đảo chính, vẫn không tránh khỏi thương vong lên tới hàng nghìn người khi phải trực tiếp đối đầu với huyền thoại Suối Đêm. Sau ba tháng giao tranh, hầu hết người của dòng họ Ma Thanh bị bắt và xử tử. Hàng nghìn người, chủ yếu là gia quyến của quân đảo chính, chạy trốn khỏi Lũng Mây, những người không chạy thoát bị bắt và xử phạt theo pháp luật.

Cuộc chiến kết thúc chóng vánh. Nhưng Ngọn Sáp, biểu tượng tri thức ngàn năm, bị chính ngọn lửa đen huyền thoại, niềm tự hào của Lũng Mây, nuốt gọn. Suốt hơn mười ba ngày, Ngọn Sáp bốc cháy cuồn cuộn như một dòng thác đen đặc. Cuộc chiến được các sử gia đặt tên là ‘Thác Đêm’ từ đó.

Ngọn Lửa Đen sau này dần tắt, Ngọn Sáp trở thành thứ duy nhất trên đời từng thoát khỏi lưỡi lửa kinh hoàng của Suối Đêm. Nhưng cũng vì thế mà tiếp tục đứng sừng sững với những vết thương không ngừng rỉ máu, như lời nhắc nhở rõ ràng nhất về cuộc chiến tranh khủng khiếp đã giết chết một nửa Lũng Mây.

Tùng Linh kết thúc câu chuyện của nó bằng một cái thở dài.

Đăng Minh cũng bất giác thở dài theo. Nó không ngờ lịch sử của Lũng Mây cũng từng ngập trong chiến tranh, chứ không phải khi nào cũng yên bình như hiện tại nó đang nhìn thấy. Nhớ tới những cánh tay vặn xoắn khổng lồ, nham nhở, khẳng khiu vươn lên trời của Ngọn Sáp, bỗng dưng nó cảm thấy tang thương vô cùng.

“Dòng họ Vàng của chú Như Nghệ và A Xáng là một trong ba dòng họ đứng đầu cuộc đảo chính năm xưa,” Tùng Linh ngậm ngùi tiếp tục câu chuyện dang dở. “Sau cuộc chiến, một chính sách mới đã được ban ra. Con cháu của các phiến quân sẽ vĩnh viễn không bao giờ được sử dụng slim ki, cũng như bị cấm sở hữu, sử dụng vũ khí hay luyện tập võ thuật. Nếu bị phát hiện, cả gia đình của họ có thể đi tù…”

“Cả… cả gia đình…,” Đăng Minh thảng thốt. “Tại sao… tại sao lại có chuyện vô lý như thế?”

“Mày cho đó là chuyện vô lý à?” Tùng Linh quắc mắt, ánh mắt sắc lẹm chợt gợi Đăng Minh nhớ tới một đôi mắt khác cũng mang lửa.

Lập tức, Đăng Minh lại co rúm, nó cố gắng không nhìn vào mắt Tùng Linh: “Ý … ý tao là… là như thế… như thế không phải là hơi… ờm… ý tao là thằng A Xáng đâu có làm gì đâu? Nó chỉ sinh ra sai bố mẹ thôi … chỉ vì thế mà sao lại bất lợi vậy…”

“Đừng nói nữa,” Tùng Linh thở dài. Giọng nói trở lại điềm tĩnh, nhưng có phảng phất chút tâm trạng: “Mày có biết cái tên ‘Pja Nẩu’ là từ đâu ra không?”

Không đợi Đăng Minh trả lời, Tùng Linh tiếp tục: “‘Pja Nẩu’ trong tiếng Tày có nghĩa là ‘cá thối’. Người Tày vốn có câu tục ngữ ‘Pja nẩu chang đúc’, cá thối từ xương thối ra, cũng giống với câu ‘Vạch áo cho người xem lưng’ của người Hán…”

“Thác Đêm năm ấy đã thực sự biến Lũng Mây thành bể máu. Nhưng quan trọng hơn thế, bà con hàng xóm, bạn bè thân thiết đột ngột trong đêm trở thành kẻ thù. Tổn thất về người đã đành, nhưng những người còn sống cũng mất hết niềm tin vào những người xung quanh. Thác Đêm thực sự là một cái tát vào niềm tin về một xã hội hoàn hảo ở Lũng Mây, là một vết dơ khủng khiếp trong lịch sử … Làm lộ ra phần xương thối nát của con cá…”

“Sau cuộc chiến, tâm lí phẫn nộ giữa các dòng họ dâng cao, đặc biệt là với con cháu của những dòng họ đã dẫn đầu cuộc đảo chính. Lo ngại lớn nhất là những người có người thân tử nạn sẽ quay sang trả thù những dòng họ này… Tình trạng an ninh của Lũng Mây được đặt ở mức cao nhất, không khác gì khi cuộc chiến còn chưa kết thúc… Người dân không dám ra đường vì sợ bị tấn công, bị trả thù… Oan oan tương báo, tới bao giờ mới hết?… Vậy nên chi bằng tước đi vũ khí của một bên….”

Tùng Linh dừng lời, chẳng biết là vì xúc động, hay vì không biết phải nói gì nữa. Nhưng Đăng Minh cũng đã đủ hiểu, đứng lặng thinh. Gió đêm thổi mạnh không còn khiến nó lạnh nữa, tâm trạng nó lúc này đã đông cứng.

Tùng Linh khịt mũi, nói: “Không phải vô cớ người ta đặt ra các luật lệ, càng chẳng phải ngẫu nhiên mà luật pháp lại ra đời… Cái gì cũng có nguyên do của nó cả…”

Đăng Minh ngước nhìn Tùng Linh. Câu nói tự nhiên chạy đi chạy lại trong đầu, nhưng lại bằng giọng nói sang sảng của Cốc Mạy.

Bất giác không nén nổi một tiếng thở dài.

***

Sáng hôm sau, Đăng Minh dậy sớm, thấy hơi khó ngủ. Nó lững thững đi dọc hàng lang sáng lờ mờ, chẳng gặp ai ngoài bác Nguyệt đang đi kiểm tra khu phòng cho khách.

Đi ngang sân sau, Đăng Minh nhác thấy A Xáng đang ngồi một mình.

Sáng nay nó và Hạnh vẫn phải tới Ngọn Sáp tiếp tục công việc nghiên cứu. Nhưng A Xáng không đi cùng. Khỏi nói thì ai cũng hiểu, nó còn giận Đăng Minh vì đã nói ra bí mật của nó, khiến nó khổ sở. Gặp Đăng Minh và Hạnh ăn sáng ở phòng bếp, nó chỉ cung kính cúi chào cả hai đứa, rồi lẳng lặng lui ra. Cứ như thể tụi nó là khách lạ mới tới thăm Đe Lửa.

Đăng Minh cũng chẳng biết phải nói gì. Ừ thì không biết không có tội, nhưng chỉ một giây ba hoa vung vít, nó đã làm tổn thương thằng bé.

“Mày đừng thấy có lỗi quá,” Đăng Minh vẫn nhớ Tùng Linh đã bảo với nó. “A Xáng đi đêm lắm ắt sẽ có ngày gặp ma, ít nhất thế này, tao còn có thể bịt kín mọi thông tin, thủ tiêu mọi tang chứng để bảo vệ nó.”

Đăng Minh biết Tùng Linh nói đúng. Nếu không phải là Tùng Linh, mà là một người khác phát hiện ra bí mật tày trời của A Xáng, rất có thể giờ này cả chú Như Nghệ và A Xáng đã bị giải lên đồn. Nhưng nhìn gương mặt ủ dột của A Xáng, khác hẳn với vẻ hoạt bát tinh nghịch thường ngày, Đăng Minh vẫn không khỏi cắn rứt.

Suốt tuần sau đó, A Xáng vẫn không nói chuyện gì với Đăng Minh, chỉ thỉnh thoảng qua chơi với Hạnh. Mất đi một niềm đam mê nho nhỏ trong đời, thằng nhóc đột nhiên trở nên rỗi rãi sau giờ học trên lớp, sau thời gian giúp đỡ bố nó công việc trong Đe. Rất nhiều lần, Đăng Minh thấy A Xáng ngồi vẩn vơ trong sân sau, ánh mắt vô hồn, liên tục nhặt sỏi dưới chân ném xuống dưới đồi.

Trông nó vô tội và đáng thương. Mỗi lúc như thế, Đăng Minh chỉ còn biết thở dài.

***

Trong khi đó, Tùng Linh cũng đã bắt đầu chuẩn bị cho Đăng Minh và Hạnh đi học.

Trẻ con Lũng Mây bắt đầu đi học lớp Một năm năm tuổi. Hoàn thành chương trình chín năm sơ cấp năm mười ba tuổi. Sau đó sẽ thi vào các trường dạy nghề, hoặc các trường trung cấp chuẩn bị cho đại học. Ngay ở Lũng Mây, trường dạy nghề lớn nhất nằm trong Đe Lửa, đào tạo thợ chế tác Đốm Hạc.

Chế độ giáo dục ở Lũng Mây không hạn chế việc nhảy lớp. Bất cứ lúc nào, bất kì đứa trẻ nào ở Lũng Mây cảm thấy chương trình trên lớp quá đơn giản cho nó, có thể đăng kí vào kì thi phân lớp được tổ chức hàng tháng mà không cần có sự đồng ý của giáo viên hay phụ huynh. Chỉ cần vượt qua kì phân loại, đứa trẻ có thể nhảy lớp.

Chính nhờ chế độ đặc biệt này, người Mảnh Gương đến Lũng Mây không gặp khó khăn trong việc rút ngắn thời gian học các lớp sơ cấp căn bản. Các tập đề cương ôn thi cho người Mảnh Gương cũng bán tràn lan trong các hiệu sách lớn trên phố. Một chiều đi học về, thằng Tùng Linh đã vác theo cả đống cho Đăng Minh và Hạnh ôn tập.

“Đây,” Tùng Linh tự hào đặt tay lên chồng sách dày cộp. “Là toàn bộ những gì các cậu cần cho kì thi phân loại đầu vào. Làm hết đồng đề này, khéo các cậu được vào thẳng lớp Năm…”

Nhìn nụ cười hớn hở của Tùng Linh, Đăng Minh tò mò lật cuốn giáo trình ôn thi. Bài thi gồm có bốn môn căn bản: Thủy Học, Hỏa Học, Thổ Học, Khí Học. Đơn giản là cách sử dụng bốn nguyên tố chính của slim ki: Nước, Lửa, Đất và Khí. Đăng Minh lật thêm mấy trang nữa, thấy đề thi chi chít những kí tự ngoằn ngoèo như một loại chữ tượng hình, nó nhíu mày: “Cái gì đây?”

Mã chú,” Tùng Linh đáp. “Nền tảng của việc ứng dụng slim ki.”

Mã chú là một hệ thống các kí hiệu, được chia theo bốn nguyên tố căn bản. Gồm hai loại chính là ‘mã đơn’ và ‘mã kép’. Mỗi nguyên tố có hàng trăm mã đơn, với các cách sử dụng khác nhau. Các mã này khi được kết hợp với nhau sẽ tạo nên mã kép. Tổ hợp vì thế mà vô cùng phong phú đa dạng. Chưa kể các mã đơn mới vẫn được sáng tạo hàng ngày. Dĩ nhiên trong các câu chuyện thường ngày, Đăng Minh đã nghe nói nhiều tới ‘mã chú’, nhưng chưa có ai dạy nó một cách bài bản. Giờ được nghe Tùng Linh giảng giải cặn kẽ, Đăng Minh thấy còn thú vị hơn rất nhiều.

“Sử dụng mã chú đơn giản là như thế này,” Tùng Linh vừa nói, vừa rút trong túi ra một cây bút, vẽ những đường ngoằn ngoèo lên một tờ giấy. “Đây là một mã Lửa căn bản, anh cần viết mã, sau đó truyền slim ki vào đó…” nói rồi thằng này đặt một ngón tay lên tờ giấy. Những đường vẽ ngoằn ngoèo sáng lên một màu đỏ rồi lập tức bùng cháy thành một ngọn lửa nhỏ ngay trên bàn. Đăng Minh lập tức nhớ tới chị bác sỹ và mã chú thần kì xoay ngược thời gian của chị, à lên một tiếng.

Tùng Linh tiếp tục dùng bút vẽ thêm vài đường ngoằn ngoèo nữa lên một tờ giấy khác rồi đặt tay lên. Tia nước đột ngột bắn ra, dập tắt ngọn lửa khi nãy, không để nó lan ra trên bàn.

“Vừa rồi là một mã Nước,” Tùng Linh giải thích. “Dập lửa có thể dùng mã Đất hay Khí đều được. Cái đó tùy thuộc vào linh hoạt trong sử dụng. Bài thi phân lớp chưa kiểm tra khả năng sử dụng slim ki, chỉ kiểm tra khả năng viết mã chú thôi. Tức là hai người phải chịu khó học thuộc lòng và học cách viết các mã phá giải là được.”

***

Thế là Đăng Minh trở lại công việc học hành. Ngày nào nó cũng cùng Hạnh lên Ngọn Sáp từ sớm, vừa để học, lại vừa tiện cho việc tiếp tục tìm kiếm thông tin về người đàn ông lạ mặt và bông hoa hồng.

Đăng Minh là đứa đầu óc thông minh, xưa nay vốn học rất giỏi. Chưa kể cách sử dụng mã chú, theo ý nó, thì ít nhiều khá giống với trò viết code trên máy tính nó vẫn ham mê, nên tiếp thu với một tốc độ chóng mặt. Nó thuộc làu hàng trăm mã đơn trong bộ sách thằng Tùng Linh mua cho, kèm theo các cách kết hợp căn bản, chỉ trong hai tuần. Dù chưa biết cách sử dụng slim ki để biến các mã chú nó viết thành hiện thực, Đăng Minh có thể giải mã với tốc độ thần sầu. Cứ như giải phương trình toán học, Đăng Minh ngồi giải hàng nghìn câu hỏi trong ngày mà không biết mệt mỏi, làm đề thi các kì trước cứ nhoay nhoáy.

Hạnh thì khác hoàn toàn. Con bé cứ như thể chưa học hành bao giờ, khái niệm ghi nhớ bài bản với nó là thứ vô cùng xa lạ. Phải mất vài hôm, nó mới làm quen được với việc ngồi đọc sách, giải bài tập như Đăng Minh. Đăng Minh chắc mẩm con bé hẳn vốn chẳng thích thú gì việc học. Chưa kể Hạnh rất dễ bị xao nhãng. Ngồi học chừng nửa tiếng, nó lại đi kiếm truyện tranh, tạp chí về đọc.

Hôm nay cũng chẳng phải ngoại lệ gì. Hai đứa mới vào bàn một lúc, Hạnh đã lỉnh luôn vào khu vực Truyện Tranh và Truyện Thiếu Nhi.

Đăng Minh tặc lưỡi, lắc đầu. Dạo này sống sung sướng trong Đe Lửa nhờ quan hệ của Hạnh với Tùng Linh, Đăng Minh tự thấy cứ làm đứa con gái như Hạnh là hay nhất. Chẳng cần quá thông minh, quá hiểu biết, vẫn sẽ nhận được ưu ái ở bất kì đâu. Chủ yếu là nó xinh, lại hiền lành ít nói, nên ai cũng dễ quý. Duy chỉ bị cái nết thẳng tính quá. Không ít lần nó khiến Đăng Minh phải bẽ bàng. Tùng Linh mê Hạnh như điếu đổ thế, âu cũng là do chưa bị con bé này ‘xạc’ cho trận nào bao giờ. Không thì đã lại khác.

Suy nghĩ lan man một hồi, Đăng Minh ngước mắt lên nhìn những tia sáng đầu tiên trong ngày len qua lớp mây mù dày đặc, rọi những mảng đầu tiên qua cửa sổ thư viện lên bàn, lên cuốn sách nó đang học dở. Đăng Minh hít một hơi thật sâu, có chút khoan khoái nhẹ trong đầu.

Tiếng chuông gió lanh canh từ đâu vẳng qua chợt khiến nó điếng người. Đầu óc váng lên như vừa bị tát một cú nổ đom đóm, Đăng Minh hoảng hồn quay lại.

Nhẹ nhàng lướt qua, trong tích tắc, mái tóc xoăn dài bông xù và đôi mắt màu xanh đã khuất dạng sau những kệ sách cao ngút của Ngọn Sáp. Đăng Minh bật dậy, lao theo không suy nghĩ. Chiếc ghế gỗ đổ sập sau lưng, nó cũng không có thời gian dựng lên.

Đăng Minh chạy. Nó điên cuồng sục sạo khắp nơi quanh các giá sách cao tới trần nhà. Ánh sáng từ các khung cửa sổ và loạt đèn trứng bay lơ lửng trên đầu phả xuống nền gỗ những cái bóng nghiêng ngả chuyển động. Đăng Minh không nhìn thấy cô gái mắt mèo đâu nữa, nhưng nó vẫn không bỏ cuộc. Nó tiếp tục lùng sục quanh khắp các kệ, các dãy. Ngọn Sáp quá rộng lớn, tìm sách còn khó, nói chi tới tìm người.

Âm thanh của chiếc lục lạc ma quái lại vang lên lần nữa phía sau lưng, Đăng Minh lập tức xoay đầu.

Không thấy người. Nhưng trên kệ sách phía tay trái, hàng thứ ba từ dưới lên, Đăng Minh đã nhìn thấy chiếc vòng bằng bạc với hai quả lục lạc to bằng ngón tay cái.

***

Hạnh đã suýt chết sặc khi nhìn thấy Đăng Minh từ đâu khệ nệ vác về một đống sách.

Tư thế của thằng này lại rất khôi hài. Không đặt ngang mấy cuốn sách rồi ôm trước ngực cho đỡ nặng, Đăng Minh hai tay bưng năm, sáu quyển sách như tư thế người ta bưng khay nước, thậm chí hai tay còn cách xa cơ thể quá mức cần thiết. Những quyển sách vẫn ở tư thế dựng đứng, cứ như Đăng Minh đã bứng nguyên cả một cụm sách ra khỏi giá mà không chọn lựa gì.

“Cậu làm cái gì thế?” Hạnh cười khúc khích.

Đăng Minh vẫn không trả lời. Lông mày nó nhíu vào, tập trung cao độ. Mồ hôi chảy xuống hai mang tai, xuống cổ mặc dù trời không hề nóng. Đăng Minh cẩn thận đặt nguyên cả cụm sách xuống mặt bàn, vẫn trong tư thế dựng đứng.

Tới lúc này, Hạnh mới hoảng hồn nhận ra chiếc vòng bạc đặt trên đống sách mà Đăng Minh mang về. Con bé líu cả lưỡi lại: “Cái… cái vòng…”

Đăng Minh gật đầu, mắt vẫn không rời chiếc vòng bạc trước mặt.

“Sao… sao cậu còn mang về đây… làm gì…” Hạnh hạ giọng hồi hộp, thậm chí còn cẩn thận bước một bước ra phía sau.

“Tớ nghĩ rồi,” Đăng Minh tặc lưỡi. “Cái vòng này khả năng cao không chứa độc.”

“Sao cậu biết?”

“Tớ đã trúng độc rồi, hạ độc lần nữa làm gì?” Đăng Minh khoanh hai tay trước ngực, hai chân bước tới lui không chủ đích, chỉ để đầu óc có thể vận động thoải mái. “Lại còn hạ độc hai lần cùng một thủ pháp, thì ngu quá còn gì? Còn chưa kể là…”

“Chưa kể là sao cơ?” Hạnh dỏng tai lên nghe.

“Khi nãy tớ đã nhìn thấy kẻ cầm chiếc vòng này bằng tay không, không đeo thứ gì bảo hộ,” Đăng Minh nheo mắt nhìn chiếc vòng.

“Cậu nhìn thấy người cầm chiếc vòng?” Hạnh há hốc trước thông tin sốt dẻo của Đăng Minh, hỏi dồn: “Trông người đó như thế nào? Có thấy mặt không?”

“Không thấy, trùm mũ kín mít cả,” lời nói dối bật ra hết sức tự nhiên trước khi Đăng Minh kịp nhận ra. Nó đơ người mất vài giây, tự hỏi vì sao mình lại không thể mở miệng về chuyện cô gái mắt mèo với Hạnh hay Tùng Linh. Cứ như thể nó vẫn còn nuôi một hi vọng nhỏ nhoi về một chuyện hiểu nhầm hi hữu nào đó.

Đăng Minh lắc đầu, cố gắng xua đuổi những ý nghĩ kì quái trong đầu, nhanh chóng trở lại với chiếc vòng bạc trước mặt. Sau một hồi suy tính, nó quyết định đưa tay cầm lấy chiếc vòng. Tiếng lục lạc lanh canh như tiếng chuông gió. Đăng Minh thậm chí còn không dám thở.

Phải đến vài phút sau, không thấy có bất kì dấu hiệu kì lạ nào xảy ra, Đăng Minh mới thở phào. Đưa chiếc vòng lại gần hơn một chút, Đăng Minh nhíu mày quan sát. Chiếc vòng này rất giống với chiếc vòng ở Hà Giang ngày hôm đó. Nếu như không muốn nói là hoàn toàn giống hệt.

Chột dạ, Đăng Minh vội vã lật hai chiếc lục lạc, quả nhiên vết đánh dấu số thứ tự khi tụi nó lấy chiếc vòng ra khỏi phòng thí nghiệm của bệnh viện vẫn còn đó nguyên xi.

Đăng Minh toát mồ hôi. Chiếc vòng này, từ hôm Đăng Minh ra viện, được cất giữ cẩn thận trong phòng của nó. Vậy mà bằng cách nào đó, cô gái kì lạ kia có thể vào hẳn trong Đe Lửa sục sạo lấy chiếc vòng ra mà không ai biết gì. Kết hợp với việc kẻ thù nắm rõ hành tung của tụi nó, chắc chắn một trăm phần trăm trong Đe Lửa có nội gián.

Tiếng lao xao của những con chim cu gáy bay lượn trên trần nhà khiến Đăng Minh giật bắn. Nó tự dưng thấy sợ. Vặn xoắn hai tay vào nhau tới đỏ lừ, đầu óc nó như muốn vỡ tung. Nó ngả người ra ghế, nhắm mắt, hai tay day day hai bên thái dương. Ai nói những thứ hại não như thế này là hay ho? Từ ngày trở thành nhân vật chính bất đắc dĩ mà không hiểu vì sao, Đăng Minh chỉ luôn thấy lo lắng, sợ hãi và đau đầu.

“Nhưng kẻ đó phải tốn công vào tận Đe Lửa lấy chiếc vòng ra rồi lại đặt lại ở đây làm gì?” Câu hỏi của Hạnh vang lên.

“Chả hiểu,” Đăng Minh đáp, mắt vẫn nhắm nghiền, hai tay không ngừng mát-xa hai bên thái dương. “Để chọc tức, để gây sự chú ý, hoặc để chỉ điểm thứ gì đó khác…”

Nói tới đây, Đăng Minh mở choàng hai mắt. Gạt chiếc vòng qua một bên, Đăng Minh nhìn chăm chú vào những cuốn sách bên dưới chiếc vòng khi nãy.

Những cuốn sách này nằm trong khu vực truyện thần thoại, cổ tích. Một trong số đó, cũng là cuốn sách dày nhất ngay dưới chiếc vòng khi nãy, là cuốn sách với tựa ‘Tuyển Tập Các Loài Thảo Mộc Trong Truyền Thuyết’.

Mắt Đăng Minh sáng rỡ. Nó lập tức mở cuốn sách ra. Rút Quản Slư ra khỏi ống cắm, nó hí hoáy viết ‘hoa hồng’.

Những trang sách lật qua liên tục, ở trang mười hai là câu chuyện tình của hoa hồng đen. Đăng Minh chăm chú đọc, hai mắt nó căng ra, cố gắng tìm kiếm bất cứ thứ gì có ích.

Đăng Minh đọc và đọc. Nhưng kì lạ thay, nó đọc đi đọc lại câu chuyện hoa hồng tới lần thứ năm, vẫn không thấy có điều gì đáng chú ý. Chỉ là câu chuyện rất quen thuộc về truyền thuyết ra đời của hoa hồng. Không nói gì tới tác dụng gây mê, chi phối hành động hay liên quan gì tới Đường Đến.

Trán Đăng Minh nhăn tít, hàng lông mày nhíu lại trong khi đầu óc không ngừng quay điên đảo. Suốt cả tiếng sau đó, Đăng Minh thử nghiệm hết từ khóa này tới từ khóa khác. Nó tiếp tục đọc đi đọc lại các mẩu truyện liên quan, nhưng không có kết quả gì.

Sau cùng, Đăng Minh ngả người ra ghế, thở hắt ra một tiếng. Là nó đã ảo tưởng quá rồi chăng? Cô gái đó đang muốn hãm hại nó, sao phải gợi ý cho nó làm gì?

Ánh sáng buổi sáng di chuyển qua cửa sổ, rọi thẳng vào bàn. Chiếc lục lạc lóa lên dưới nắng làm Đăng Minh phải nheo lại vì chói.

Đăng Minh nhìn chiếc lục lạc thêm vài giây. Rồi một ý tưởng khác chợt lóe lên, nó lập tức chộp lấy Quản Slư, viết hai chữ ‘slim ki’ vào trang đầu. Cuốn sách lần nữa lật qua rào rào trước mặt, ở trang 103, viết:

… Trúc Long là tên gọi chung của tất cả các loài tre mang slim ki. Truyền thuyết về thực vật thần bí này đã có từ những năm 2000 Trước Công Nguyên. Được miêu tả là một loài cây kỳ diệu mang nhiều phép thuật mà loài người còn chưa biết hết, Trúc Long được đồn đại là có công dụng cải lão hoàn đồng, chữa bách bệnh và thậm chí có thể dùng để tiên đoán tương lai. Sự liên hệ mật thiết của loài Trúc Long và truyền thuyết về Sử Trắng, giai đoạn văn hóa dựng nước vốn không được ghi chép đầy đủ trong lịch sử, khiến Trúc Long trở thành đề tài yêu thích của các sử gia…”

Đăng Minh cười khan.

Nếu thực sự đây là manh mối quan trọng như nó nghĩ, thì nó rất tò mò muốn biết cô gái mắt mèo đang toan tính điều gì.

***

“Thực vật?” Tùng Linh trợn ngược mắt.

“Ừ, thực vật,” Đăng Minh gật đầu. “Hồi trước chị bác sỹ chủ trị của tao có bảo độc dược dùng để hạ độc tao không thể được chế tác từ pang ki, vì khi pang ki chết, slim ki của nó sẽ biến mất. Cũng không thể tạo ra từ các vật chứa như đá Then. Nếu không phải đồ vật, chẳng phải con vật, thì chỉ còn thực vật thôi? Thực vật dù có bị cắt nhỏ vẫn có thể sống, nảy mầm, sinh sôi. Vậy một loài thực vật mang slim ki, có thể được dùng để hạ độc?”

Tùng Linh hoang mang nhìn Đăng Minh: “Tao đồng ý là mày nói có lý. Nhưng loài thực vật nào…”

“Cái đó tao không chắc,” Đăng Minh thành thật đáp. “Mấy ngày rồi có đọc nhiều sách về thực vật, chưa bao giờ thấy nhắc tới loài cây nào mang slim ki… Chỉ có loài Trúc Long kì lạ này…”

Tới đây thì Đăng Minh dừng lời, nhìn Tùng Linh. Tùng Linh cũng trầm ngâm không kém. Nó suy nghĩ liên hồi, cuối cùng chỉ nói: “Ngọn Sáp hẳn có không ít sách liên quan…”

Ấy thế mà số lượng sách về Trúc Long trong Ngọn Sáp hoàn toàn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Thậm chí các thông tin được lặp lại tương đối nhiều về các công dụng chưa được kiểm chứng, cũng như sự kỳ diệu của Trúc Long mà không thấy diễn giải chi tiết. Chỉ một ngày thứ bảy, tụi nó đã đọc hết những tài liệu có thể tìm.

Đăng Minh ngả người, tựa lưng vào ghế, nhắm mắt. Nó lại cảm thấy bế tắc. Cứ tưởng cô gái mắt mèo đã cho nó một manh mối vô cùng quan trọng, nhưng rồi đầu mối ấy lại chẳng đi tới đâu. “Chẳng nhẽ hàng triệu cuốn sách ở Ngọn Sáp, không tìm nổi cuốn nào kể chi tiết hơn về Trúc Long sao?” Đăng Minh thống thiết rên lên.

“Thực ra tao có nghĩ ra một chỗ mình chưa tìm,” Tùng Linh liếm môi.

“Đâu?” Đăng Minh bật thẳng người dậy. “Chỗ nào?”

“Khu vực Tài Liệu Nghiên Cứu Giới Hạn,” Tùng Linh đáp.

“Tài liệu nghiên cứu giới hạn?” cả Hạnh và Đăng Minh đều tò mò.

“Khu vực dành cho các nghiên cứu sinh và học giả của Ngọn Sáp. Cần có sự cho phép của quản lý hoặc phải có thẻ đọc đặc biệt…”

Tùng Linh mới nói tới đó, Đăng Minh đã tiếp lời ngay, giọng nghiêm trọng: “Vậy ý mày là chúng ta nên lén lút đột nhập vào…”

“Mày giàu trí tưởng tượng quá rồi. An ninh Ngọn Sáp không đùa được đâu,” Tùng Linh nhăn mặt. Rồi nó ngồi thẳng dậy, ưỡn ngực: “Tao không muốn khoe khoang gì đâu, nhưng làm cháu của Cốc Mạy cũng có nhiều ưu tiên hơn bình thường lắm đấy!”

Đăng Minh khịt mũi, nhìn Tùng Linh bằng ánh mắt long lanh. Bình thường nó sẽ cảm thấy ghen tị lắm, nhưng hôm nay, nó chỉ thấy may mắn vì mình đã kết bạn được với ‘ông con giời’ như Tùng Linh.

************************

Hết Chương XII