Slide 1
previous arrow
next arrow

8181-chuong-8

CHƯƠNG 8

Tôi liếc nhìn qua vẻ mặt của Dung, và lần đầu tiên trong quãng thời gian 5 năm quen biết, tôi thấy có một nét lo âu hiện lên trên mặt cô. Không phải là vì tôi chưa từng thấy cô ấy lo âu trước đây, mà là vì thấy Dung thể hiện nó trong giờ thuyết trình lịch sử giống như thấy cá lo sợ khi bơi trong nước vậy. Đây là sân nhà của cô, nơi cô thể hiện sự bất bại với bạn bè đồng trang lứa trong suốt bao nhiêu năm qua. Nói điều này nghe có vẻ hơi quá, nhưng tôi nghĩ thậm chí cả giáo viên dạy Sử trường tôi cũng phải dè chừng nếu như cả hai có cùng lọt vào vòng chung kết của một gameshow trí tuệ nào đó về kiến thức lịch sử.

Cả lớp dĩ nhiên giờ đây dán mắt vào Hồng, xem cô ấy có thể hỏi câu gì mà có thể gây khó cho Dung được. Hồng sau đó cất tiếng:

“Dạ chào cô, em tên là Hồng, học sinh mới chuyển tới từ Hà Nội ạ.”

“Hà Nội cơ à?” Cô giáo cảm thán. “Cô ngày xưa cũng từng ở đó đấy. Vậy em bắt đầu đặt câu hỏi đấy.”

“Dạ vâng, cám ơn cô.” Hồng đáp, sau đó đứng dậy nhìn về phía Dung. “Mình có một câu hỏi cho Dung, đó là cậu bảo Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà tiên tri vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam. Thế cậu có biết là có một nhà tiên tri khác cũng vĩ đại không kém Nguyễn Bỉnh Khiêm không? Người đã góp phần tạo ra một dấu ấn chính trị còn biến động hơn cả những dấu ấn mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại?”

Cả lớp xôn xao một lúc rồi nhìn lên phía Dung. Cảnh tượng giờ đây giống như câu thành ngữ “Khi một sức mạnh không thể ngăn cản gặp phải một vật không thể chuyển dời.” Hay nói cách khác, Dung đã có một đối thử thực sự cho mình. Cô nhìn Hồng căng thẳng một hồi, và rồi một cảnh tượng mà không ai nghĩ là sẽ bắt gặp trong cuộc đời mình xảy ra.

“Mình… không biết.” Dung đáp, với một giọng nói bất lực nhất mà tôi từng nghe. Giọng nói của một người lần đầu tiên trong đời nếm mùi bị đánh bại ở sở trường của mình.

“Câu hỏi thú vị thật.” Cô giáo nói. “Ngay cả cô cũng không biết ai trong lịch sử Việt Nam mà có tài tiên tri còn ảnh hưởng hơn cả Nguyễn Bỉnh Khiêm. Vậy em có thể cho cô biết người đó là ai không, Hồng?”

“Dạ thưa cô, đó là nhà sư Vạn Hạnh.”

Hồng sau đó im lặng một lúc, như để câu trả lời thấm vào Dung và cô giáo. Hai người bọn họ trông giống như được vỡ òa do được khai sáng. Cô nói tiếp:

“Lúc bấy giờ là năm 938 sau Công nguyên, nhà sư Vạn Hạnh được sinh ra. Ông thuở nhỏ đã thông minh, học thông Nho, Lão, Phật và nghiên cứu hàng trăm bộ luận Phật giáo. Năm 21 tuổi ông xuất gia đi tu, chuyên thực tập Tổng Trì Tam Ma Ðịa. Nhờ học theo môn phái này mà ông đã có khả năng tiên tri, chuyên viết ra những lời sấm tiên đoán vận mệnh nhân gian.

Năm 980, Lê Đại hành lên ngôi khởi đầu thời kì của nhà tiền Lê. Sư Vạn Hạnh trở thành cố vấn của nhà vua, và sử dụng tài năng tiên tri của mình để đưa ra những lời khuyên quý giá, giúp vua chèo lái đất nước. Tuy nhiên, hành động có ảnh hưởng chính trị nhất mà ông từng làm đó là chuẩn bị cho Lý Công Uẩn lên ngôi.”

“Lý Công Uẩn à?” Cô giáo tỏ vẻ hứng thú. “Tên thật của vua Lý Thái Tổ đúng không em?”

“Dạ vâng, đó chính là ông.” Hồng nói. “Lý Công Uẩn sinh năm 974. Từ nhỏ ông được theo học ở chùa Lạc Tổ, nơi nhà sự Vạn Hạnh đang là trụ trì. Nhà sư thấy trong Lý Công Uẩn tiềm năng của một người tài giỏi đủ để trở thành bậc minh quân mà nước Việt cần khi đó. Cộng với việc nhà tiền Lê đang có dấu hiệu đi tới suy tàn, nhà sư nhận ra rằng giờ đây phụ thuộc vào ông để trui rèn cậu bé đó trở thành nhà lãnh đạo của thời kì tiếp theo.

Lý Công Uẩn hàng năm theo Thiền sư vạn Hạnh vào hầu vua Lê Đại Hành ở thành Hoa Lư, và nhanh chóng được vua tín cẩn. Sau đó, vua Lê Đại Hành băng hà vào năm 1005. Bốn người con trai của ông chiến đấu với nhau để giành ngôi vua, và người chiến thắng là Lê Long Đĩnh. Ông trị vì đến năm 1009 thì qua đời một cách bí ẩn. Trong 4 năm đó, ông đã để lại tiếng xấu khi được nhắc đến với các thói thể hiện sự dâm đãng, tàn bạo và độc ác. Còn Lý Công Uẩn, khi đó vẫn là quan trong triều đình, lại càng lúc càng được người dân ủng hộ, một phần lớn do công tuyên truyền và vận động của nhà sư Vạn Hạnh. Nên sau khi Lê Long đĩnh Mất, không có nghi ngờ gì về việc Lý Công Uẩn được chọn lên ngôi, mở đầu cho thời kì nhà Lý.”

Cả lớp nghe xong “Ồ” lên một tiếng dài và vỗ tay vang dội. Cô giáo phải thốt lên một cách xuýt xoa: “Rất là ấn tượng, Hồng ạ. Ngay đến hôm nay cô mới được biết là việc Lý Công Uẩn lên ngôi hóa ra có sự tác động từ nhà sư Vạn Hạnh nhiều đến như vậy.”

“Nhưng vấn đề ở đây…” Dung nói một cách hằn học. “Cậu bảo rằng nhà sự Vạn Hạnh được cho là có tầm ảnh hưởng chính trị ngang với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chính xác là việc mà nhà sư làm là gì mà có thể so sánh như thế?”

Một bầu không khí bao trùm lấy cả lớp. Dung đã trở nên tức giận. Một điều nữa mà bạn không hề nghĩ có thể xảy ra. Hồng sau đó vẫn bình tĩnh đáp lại:

“Đó chính là quyết định dời đô từ Hoa Lư về Đại La sau khi Lý Công Uẩn đăng quang. Như chúng ta đã biết, năm mà Đại La được chọn làm thủ đô mới của nước Việt là 1010. Một con số nghe rất đẹp, nhưng ẩn sau nó là nhiều chi tiết còn “đẹp” hơn nữa. Năm 1010 là năm Tuất, và Lý Công Uẩn cũng là tuổi Tuất. Nhà Sư Vạn Hạnh đã tiên đoán được điều này từ lâu. Sở dĩ có thể lựa được ngày đẹp như vậy để xây xong là do kế hoạch dời đô sang Đại La của Lý Công Uẩn đã được sư Vạn Hạnh vạch ra từ rất lâu, do ông tin là vị trí địa lý của nó nếu xây kinh đô sẽ giúp nước Việt trở nên hưng thịnh, và nếu xây đúng năm tốt thì sự thái bình sẽ còn mạnh mẽ hơn. Và thế là Đại La, sau này đổi tên thành Thăng Long, trở thành thủ đô mới của nước Việt.

Chính hành động này đã sinh ra Chiếu Dời Đô, bài văn của Lý Công Uẩn ban hành vào mùa xuân năm 1010 nhằm thông báo việc chuyển kinh đô của nước. Không chỉ mang ý nghĩa truyền đạt thông tin, mà Chiếu Dời Đô còn trở thành bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của lịch sử Việt Nam. Và chi tiết đó, chính là lý do vì sao sư Vạn Hạnh là một nhà tiên tri có tầm ảnh hưởng lớn ngang ngửa Nguyễn Bỉnh Khiêm.”

Cả lớp nghe xong thì xôn xao. Dung sau đó cất tiếng:

“Điều đó là không đúng. Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước là bài thơ Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt. Tất cả các sử sách đều công nhận điều đó.”

“Đúng là các sử sách đều công nhận điều này.” Hồng nói. “Nhưng, nếu xét theo các tiêu chuẩn được công nhận của một bản tuyên ngôn độc lập, thì nội dung Chiếu Dời Đô có nhiều chi tiết khớp với những điều đó. Đây, tớ sẽ lên bảng viết ra…”

“Được rồi em ạ.” Hồng đang nói thì cô giáo ngắt lời. “Cô nghĩ chúng ta hiện đang đi quá xa với chủ đề bài học hôm nay rồi. Để khi khác vậy nhé. Các em có thể về chỗ.” Cô nói với tổ chúng tôi, những người vẫn đang đứng trên bục giảng nãy giờ. Chúng tôi nhanh chóng quay lại chỗ ngồi. Cô giáo sau đó nhìn Hồng và nói với một vẻ tự hào:

“Em nên tham gia vào đội tuyển Sử của trường mình. Cô cam đoan là em sẽ giành giải nhất Tỉnh trong cuộc thi sắp tới cho mà xem.”

Cả lớp lại “Ồ” lên một tiếng. Riêng chỉ có tôi là im lặng. Dung ngồi với vẻ mặt cuối gằm đầy thất vọng. Và bài giảng “Nhàn” bắt đầu diễn ra.