9280-chuong-nam
Mặt trời như một quả cầu lửa khổng lồ, dù đã chìm một nửa nơi đường chân trời rồi nhưng vẫn hằn học trút cố những hơi nóng cuối cùng xuống nhân gian. Cảnh vật bên dưới bị phủ một màu đỏ ối, đang rũ rượi chịu đựng.
Một đoàn gồm hai chiếc xe ngựa phóng như bay trên con đường đất nhuốm sắc chiều tà, bụi tung mù mịt. Tiếng chan chát phát ra từ roi của hai tên kiệu phu khi vụt vào mông ngựa vang vọng trên đường. Hai con ngựa tung vó xem ra đã rất mệt mỏi, mắt con nào cũng hằn lên tia máu, chỉ chờ cụp xuống.
Khúc Thắng vén tấm màn trước xe, thò mặt ra nói: “Đi nhanh nữa lên, chúng ta cần đến nơi trước khi trời tối.”
“Vâng, thưa lão gia.” Tên kiệu phu gật đầu nói. Sau đó là những tiếng chan chát tiếp tục vang lên, nhưng với nhịp nhanh hơn rất nhiều. Hai con ngựa gồng mình lên chịu đựng, phóng vun vút trên con đường đất không nhìn thấy điểm cuối.
Đi mãi thì cũng đến. Con đường tưởng chừng dài vô tận có lẽ sắp kết thúc. Từ xa mờ mờ hiện ra một chiếc cổng bằng đá, lại gần nhìn rõ trên cổng có dòng chữ “Phủ Khoái Châu(1)”. Từ cái cổng đá, đường đi đã được lát gạch, nhà cửa thưa thớt hiện ra, bóng dân cư cũng xuất hiện ngày một nhiều.
Đi qua cổng, vào nơi có người nên hai chiếc xe ngựa không phóng nhanh nữa, chậm rãi lăn bánh. Tiếng võ ngựa lộc cộc gõ nhịp đều đặn trên nền gạch.
Trời chuyển dần sang sắc tối. Người dân bắt đầu thắp đèn, từ một hai cái cho đến khi nhà nào cũng sáng ánh vàng. Ánh đèn hắt lên trên đường cái như rải một lớp lụa mỏng vàng óng. Xe ngựa đi vào càng sâu bên trong, dân cư càng đông đúc, quả là một nơi rất nhộn nhịp. Trái ngược hẳn với con đường đất vắng vẻ mà xe ngựa vừa đi qua.
Trần Công Minh đã tỉnh dậy. Chàng cảm thấy người đau nhức ê ẩm, có lẽ do nằm lâu nên hiện tại chưa cử động được. Chàng từ từ mở mắt, thấy trong bóng tối thấp thoáng hai bóng người đang ngồi.
“Ồ, thiếu hiệp đã tỉnh lại.” Khúc Thắng ngồi cạnh ân cần lên tiếng. Lão thấy Trần Công Minh đang gồng mình muốn ngồi dậy, vội vươn tay lại đỡ.
Trần Công Minh ngồi thẳng người lại, dựa lưng vào thành xe, uể oải hỏi: “Tôi đã hôn mê bao lâu rồi?”
“Thiếu hiệp đã nằm được một ngày một đêm.” Khúc Thắng trả lời.
“Ta đang ở đâu vậy?”
“Hiện tại đang ở phủ Khoái Châu.” Vị công tử ngồi cạnh Khúc Thắng lên tiếng. Trần Công Minh bây giờ mới để ý thấy y, lúc ở quán ăn dưới chân núi Thiên Bằng, gần như y không nói lời nào, chỉ dùng hai tay ôm vị thiếu phụ kia dựa sát vào tường. Nhìn ngoại hình y mập mạp mặt tròn giống hệt cha nhưng xem ra tính cách có vẻ giống mẹ, không như vị công tử mặt trắng hay lời kia.
“Không biết quý tính đại danh thiếu hiệp là gì để tiện xưng hô?” Khúc Thắng chắp hai tay lại hỏi, rất có phép tắc.
“Tôi họ Trần, tên Công Minh.”
“Ồ Trần thiếu hiệp tên giống với một người nổi tiếng trong giới luyện khí.” Vị công tử ngồi cạnh nói.
“Tôi chỉ là người vô danh qua lại trên giới luyện khí thôi, chuyện trùng tên tuổi là điều bình thường.” Trần Công Minh quay sang Khúc Thắng hỏi: “Không biết tại sao các vị lại bị những kẻ kia truy sát?”
“Không giấu gì thiếu hiệp,” Khúc Thắng hít một hơi rồi thở dài, lão nói: “Chúng tôi quê ở phủ Phú Lương(2), dòng họ xưa kia có khai đàn lập ra môn phái luyện khí tên là Tam Quyền Môn. Đến đời tôi được truyền lại là đời thứ mười. Tam Quyền Môn là môn phái bé nhỏ, chỉ có hai võ đường, ngay cả ở Phú Lương cũng ít người biết nên chắc thiếu hiệp cũng chưa nghe qua. Chục năm trở lại đây, Ma Giáo khởi hưng, luôn đi thâu tóm bắt các môn phái lớn nhỏ phải quy phục. Môn phái nào không nghe thì sẽ gặp hoạ diệt môn rất thê thảm. Vốn Tam Quyền Môn chỉ là môn phái vô danh trong giới luyện khí, nên tôi cứ nghĩ chúng sẽ không thèm để ý. Nào ngờ tháng trước chúng đã gửi thiệp mời gia nhập viết bằng máu đỏ đến. Tất nhiên, tôi làm sao chịu đồng ý để làm khuyển nô, cầm đao giết người cho chúng. Tôi liền gửi đi rất nhiều thư cầu viện đến các chính phái trong giới luyện khí. Nhưng có lẽ Tam Quyền Môn là môn phái quá nhỏ, chỉ là hạt cát trong giới luyện khí nên không ai muốn vì hạt cát đó mà đối đầu Ma Giáo. Đa phần thư hồi âm gửi lại chỉ là chúc tai qua nạn khỏi, không có lấy một hành động giúp đỡ gì. Ngay cả Thần kiếm Môn, môn phái duy nhất có thể đối đầu được với liên minh Ma Giáo hiện nay, cứ cách hai ngày là tôi gửi một lá thư, vậy mà một lời hồi âm cũng không.”
Nói xong câu cuối Khúc Thắng dừng lại thờ dài não nề. Trán lão nhăn lại, lộ vẻ rất buồn rầu. Dường như việc Thần Kiếm Môn không ra tay giúp khiến lão vô cùng thất vọng. Trần Công Minh nghe lão nói cũng thấy áy náy. Chàng nghĩ lại trong đống thư để trên bàn ở thư phòng của mình hôm trước chắc cũng có thư cầu viện của Tam Quyền Môn trong đó.
“Có lẽ các môn phái hiện tại thân mình cũng không lo xong. Ngay cả Thần Kiếm Môn, tôi nghe nói địa bàn đang dần mất vào tay Ma Giáo mà không làm gì được.” Trần Công Minh nói, giọng chàng pha chút ý thanh minh.
“Chắc là vậy.” Khúc Thắng nói tiếp: “Không ai giúp đỡ, tôi chỉ còn cách dừng hoạt động của môn phái, đóng cửa võ đường lại để chạy trốn lên Thăng Long ở nhà người thân, đợi qua khỏi kiếp nạn này tính sau. Đường lên kinh thành tôi cũng không chọn con đường quen thuộc là đi qua Quốc Oai(3) mà chọn đi đường vòng qua lộ Bắc Giang, Thiên Đức(4), Khoái(5). Mặc dù quãng đường đi sẽ xa hơn gấp đôi nhưng có thể đánh lừa được tai mắt bọn Ma Giáo. Vậy mà cuối cùng vẫn không thể thoát khỏi nanh vuốt của chúng, suốt từ đoạn đường Phú Lương đến Bắc Giang trở đi chúng tôi đã bị truy sát. Bọn chúng có lẽ đánh giá thấp chúng tôi nên chỉ phái những kẻ có công phu bình thường đóng giả làm thổ phỉ, đạo tặc đến cướp phá nên chúng tôi vẫn cầm cự rồi chạy trốn được. Nhưng hai kẻ hôm qua gặp ở Bắc Giang công phu thật quá cao cường, nếu không có thiếu hiệp xuất hiện, có lẽ cả gia đình chúng tôi đã bỏ mạng ở đó.”
“Hai kẻ chúng ta gặp đấy cũng không phải loại vô danh đâu.” Trần Công Minh hồi tưởng lại cảnh tượng khi đó liền nói.
“Ồ, thiếu hiệp biết tên tuổi chúng?” Vị công tử mập mạp ngồi cạnh hỏi.
“Trên giới luyện khí hơn chục năm nay có một cặp đôi hắc đạo hoành hành ngang ngược, hại chết rất nhiều người. Giới luyện khí gọi chúng là Nhị Diện Ma Tặc.”
“Cái tên Nhị Diện Ma Tặc tôi cũng nghe qua, không ngờ Ma Giáo lại phái cả bọn chúng truy sát chúng tôi.” Khúc Thắng sửng sốt.
“Nhị Diện Ma Tặc công phu rất cao. Nhưng cái đáng sợ của bọn chúng không ở công phu mà là ở thuật cải trang của chúng. Hành tẩu trong giới luyện khí, chúng luôn đi cùng nhau, lúc thì là đôi sư huynh đệ, lúc thì là đôi vợ chồng, khi thì là đôi ăn mày ngồi lề đường, thậm chí là một đôi tiểu đồng. Chính vì thế nên không ai biết được mà đề phòng khi chúng ra tay.” Trần Công Minh nói.
“Chúng cải trang được thành sư huynh đệ, ông lão hay bà lão thì được. Nhưng làm sao lại cải trang được cả thành hai đứa tiểu đồng thấp bé thế?” Vị công tử mập mạp ngồi cạnh ngạc nhiên hỏi.
“Bởi vì thuật luyện khí mà chúng luyện.” Trần Công Minh trầm ngâm nói. “Đó là Vô Diện Công và Xúc Cốt Công. Vô Diện Công khi luyện thành có thể thay đổi cơ mặt, giọng nói, thậm chí cả từng nếp nhăn. Người luyện nó có thể thay đổi khuôn mặt nam biến thành nữ, trẻ biến thành già mà không ai nhận ra được. Còn Xúc Cốt Công luyện xong có thể thay đổi xương cốt, thân thể mềm như sợi bún, tay chân thu ngắn dài ra tuỳ ý. Nghe nói ai luyện lâu năm có thể chui qua được những khe đá bé tẹo mà bình thường chỉ những loài cáo, chồn hay chui qua.”
“Trên đời lại có những môn công phu dị biệt vậy sao?” Vị công tử mập mạp thán phục.
“Hai môn công phu này vốn của Chiêm Thành. Nhiều năm trước khi ba châu của Chiêm sát nhập vào Đại Việt ta thì các loại công phu kì lạ của người Chiêm cũng du nhập vào giới luyện khí ngày một nhiều.”
Vị công tử mập mạp đang định mở miệng hỏi thêm, có vẻ như anh ta đang rất hứng thú khi nghe đến bàn luận về giới luyện khí thì Khúc Thắng bên cạnh khẽ đằng hắng một cái rồi lên tiếng: “Thông, Trần thiếu hiệp mới tỉnh lại, con để cho thiếu hiệp nghỉ ngơi chút. Ồ, hình như chúng ta cũng đến khách điếm dừng chân rồi.”
Đoàn xe ngựa lăn bánh chậm dần rồi dừng hẳn lại tại một khách điếm nằm ở ngã tư. Bốn người nhà họ Khúc cùng Trần Công Minh lục tục xuống xe. Khúc Thông có ý muốn dìu Trần Công Minh, nhưng Trần Công Minh khách sáo từ chối, chàng tự mình bước xuống. Hai kiệu phu khiêng hành lí của mọi người lên trên lầu, do chạy trốn nên mọi người cũng mang theo rất ít đồ, nhìn chỉ thấy vài rương, chủ yếu là quần áo.
Trần Công Minh được bố trí cho một phòng riêng rất tiện nghi. Chàng vừa vào phòng đã ngồi xếp bằng dưỡng khí. Được một lúc có tiếng gọi, nghe giọng thì là của vị công tử mặt trắng gọi xuống ăn cơm, nhưng Trần Công Minh từ chối không xuống. Vị công tử mặt trắng biết Trần Công Minh đang bệnh nặng nên cũng không nài ép, một lúc sao thấy y tự tay bê một bát cháo thịt lên cho chàng.
“Anh ăn chút đi cho có sức.”
“Đa tạ công tử.”
Vị công tử mặt trắng đặt bát cháo xuống bàn, chàng muốn nói chuyện với Trần Công Minh, nhưng quay mặt lên đã thấy Trần Công Minh nhắm mắt lại. Chàng đành nhẹ nhàng bước ra ngoài, từ từ khép cửa lại.
Luyện khí sư dù có sốt cao nhưng nhờ thân thể tráng kiện thường khỏi nhanh hơn người bình thường. Trần Công Minh bị sốt cao chủ yếu là do thân mang nội thương lại phải liên tục giao chiến nên bị mất sức. Hiện tại sau khi ăn xong bát cháo và ngồi dưỡng thần hồi khí vài canh giờ thì sắc mặt chàng đã đỡ nhợt nhạt, cơ thể khí huyết được lưu thông ổn định không còn cảm thấy quá mệt mỏi.
Trần Công Minh hơi mở hé cửa sổ, chàng thấy bên dưới đường vẫn tấp nập người qua lại. Thời tiết cuối thu, ngày nóng đêm hơi lạnh nhưng chàng vẫn muốn ra ngoài hít thở không khí một chút. Là chưởng môn của Thần Kiếm Môn lại bị nội thương nên Trần Công Minh chẳng mấy khi ra ngoài, thời gian chủ yếu ngồi trong thư phòng giải quyết công chuyện hoặc vào Tàng Thư Động nghiên cứu. Bây giờ có dịp ra ngoài nên cũng muốn tận hưởng. Nghĩ thế, Trần Công Minh lấy trong tay nải cuốn sách rồi mở cửa bước ra, định bụng đứng ngắm cảnh một lúc rồi ngồi đó đọc sách luôn. Do khách điếm nằm ở ngã tư nên ngồi trên hiên ngoài có thể cảm nhận được toàn bộ không khí nhộn nhịp của các con phố phía dưới.
“Tối lạnh rồi mà anh vẫn chưa ngủ à?”
Trần Công Minh đang ngồi ngoài hiên của khách điếm nhìn ra đường thì nghe có tiếng nói đằng sau. Chàng quay lại thấy vị công tử mặt trắng đang đi lại, vừa cười vừa nói. Nhìn từ xa, Trần Công Minh thấy vị công tử này mặt trắng, môi hồng, nụ cười nhìn đẹp mà thanh nhã bất giác cảm thấy y có vẻ đẹp rất kì lạ. Thậm chí nhìn còn đẹp hơn tất cả các cô gái mà Trần Công Minh từng gặp.
“Trong phòng bí quá nên tôi muốn ra hít thở khí trời chút.” Trần Công Minh hơi mỉm cười nói.
“Sức khỏe của anh thế nào rồi?” Vị công tử trẻ tuổi đi lại đứng cạnh Trần Công Minh, nhìn chàng hỏi.
“Cũng ổn.” Trần Công Minh đáp. Khi vị công tử trẻ tuổi kia lại đứng gần, Trần Công Minh đã biết lí do vì sao chàng cảm thấy y có vẻ đẹp kì lạ vậy. Hoá ra đây là một cô gái giả trang nam. Hương thơm hoa lan toả ra từ người nàng chính là thứ Trần Công Minh ngửi thấy trước khi ngất đi. Dẫu có cố tình cải trang, mặc sang đồ nam, nhưng thói quen thích trang điểm của nữ giới thì lại không dễ gì thay đổi.
“Đa tạ anh đã ra tay cứu giúp, nếu không tôi đã không thể đứng ở đây được rồi.” Cô gái giả trang nam đứng thẳng lưng, ôm quyền tạ ơn trước mặt Trần Công Minh. Nhìn có vẻ rất khí khái nam nhân.
“Thấy chuyện bất bình ra tay tương trợ, không cần khách sáo.” Trần Công Minh nhìn cô gái trước mặt đang cố tỏ ra vẻ nam tử hán có ơn tất báo, tự nhiên cảm thấy y khá buồn cười.
“Tôi tên là Khúc Liên.” Khúc Liên vừa nói tên xong thì thấy trong tay Trần Công Minh đang cầm một cuốn sách. Trong ánh đèn vàng thắp ngoài hiên của khách điếm, nàng loáng thoáng nhìn thấy tên của nó. Bất giác khuôn mặt Khúc Liên có chút gì đó không vui, nàng cất giọng hỏi: “Anh ra đây để ngồi đọc cuốn Bạch Đằng Giang này à?”
“À, lúc nãy tôi định ra nhìn đường xá một chút rồi ngồi đọc sách luôn.” Trần Công Minh nói. “Hình như công tử cũng từng đọc cuốn này rồi?”
“Tôi rất thích đọc sách lịch sử, tất cả các cuốn sách sử đang lưu truyền hiện nay tôi đều đã đọc qua.” Khúc Liên nói.
“Không ngờ công tử lại có đam mê với sử học như vậy.” Trần Công Minh thán phục nói. Thực ra ý thực tế trong câu nói này của Trần Công Minh là “Không ngờ một cô gái lại thích nghiên cứu lịch sử đến thế”. Phụ nữ Đại Việt đều chỉ học nữ công gia chánh, học đàn, học hát, đến tuổi gả chồng thì học thêu thùa. Tìm được một người như cô gái này, có những sở thích ngoài những thứ đó thì thực sự rất hiếm. Trần Công Minh đến giờ cảm thấy cô gái này rất thú vị, có sức thu hút kì lạ với chàng.
“Lịch sử chính là bài học của tiền nhân. Nếu như hậu thế có thể hiểu sâu sắc được các sự kiện trong quá khứ ông cha để lại, sẽ hạn chế được rất nhiều sai lầm sau này.” Khúc Liên nói hết câu thì dừng lại trầm ngâm một lúc, nàng chẹp miệng nói: “Nhưng mà đáng tiếc…”
“Đáng tiếc gì?”
“Đáng tiếc các tác phẩm viết về lịch sử vẫn bị gò bó theo sự hiểu biết của văn nhân đương thời.” Khúc Liên hơi cau mày, hạ giọng nói: “Nên người đọc chỉ hiểu một phần theo kiến giải chủ quan của văn nhân viết nên cuốn sách đó, mà không hiểu hết được các diễn biến lịch sử, như cuốn Bạch Đằng Giang anh đang đọc là một ví dụ.”
“Mong được lắng nghe thêm ý kiến của công tử.” Trần Công Minh khách sáo nói.
“Anh đọc rồi chắc cũng biết. Cả cuốn sách nói về uy vũ của Ngô Vương Quyền(6) khi đánh bại hàng vạn quân Nam Hán(7) trên sông Bạch Đằng(8), lần đầu giúp dân ta thoát khỏi ách độ hơn nghìn năm. Từ đó giặc phương Bắc không dám quay lại nữa. Tài năng quân sự của Ngô Vương Quyền chói lọi không còn gì để bàn. Nhưng anh có nhớ rằng trước đó cũng đã từng có rất nhiều anh hùng Đại Việt giành được thắng lợi vang dội trên chiến trường giống Ngô Vương. Như là Hai Bà Trưng(9), Bà Triệu(10), Lý Nam Đế(11), Triệu Quang Phục(12), tuy nhiên sau đó giặc phương Bắc lại nhanh chóng quay lại dập tắt dễ dàng. Anh có biết cũng là chiến thắng trên chiến trường nhưng họ lại thiếu gì so với Ngô Vương để ổn định bờ cõi không?”
“Đó là gì vậy?” Trần Công Minh hỏi.
“Đó chính là căn cơ.” Khúc Liên nói, nàng bây giờ giống như là đang giảng bài còn Trần Công Minh chính là cậu học trò hiếu học vậy, mặt nàng toát ra vẻ nghiêm túc kinh người. Nàng khoanh tay trước ngực, đôi mắt diễm lệ nhìn xa xăm nói: “Các cuộc khởi nghĩa trước giành thắng lợi trên chiến trường nhưng khi quay lại thì nền móng đô hộ bao nhiêu năm của giặc phương Bắc vẫn còn đó, nó đã ăn vào gốc rễ xương tuỷ đất nước, chiến thắng trên chiến trường chỉ là chiến thắng bên ngoài còn mầm mống giặc ngoại xâm bên trong lại không thể tẩy trừ. Vì vậy giặc phương Bắc chỉ cần muốn, lật tay một cái là dập tắt ngay được. Còn thời điểm Ngô Vương Quyền thì khác, căn cơ nền móng Đại Việt đã có, các vị trí trọng yếu bên trong đều là của người Việt, một nền kinh tế tự chủ của người Việt. Giặc phương Bắc thua trận, chúng đã xem nước ta là một nước có bờ cõi, nền móng riêng, từ đó không còn dám sang xâm lược nữa. Ngô Vương Quyền tài năng cổ kim ít người có nhưng ngài lại là võ tướng liên tục tham gia đánh trận, không thể xây dựng nên căn cơ nền móng như thế cho Đại Việt ta được, mà đó là do một dòng họ đã âm thầm xây nên. Anh đọc sách liệu có từng nghe thấy dòng họ Khúc chưa?”
“Tôi có đọc trong cuốn Bạch Đằng Giang này nên cũng biết. Đó là dòng họ có ba đời làm Tiết Độ Sứ tại nước ta. Dưới trướng các vị Tiết Độ Sứ này có một viên ái tướng tên là Dương Đình Nghệ(13), năm xưa Ngô Vương chính là con rể của viên tướng này.”
“Đúng thế. Trong ba đời làm Tiết Độ Sứ An Nam. Dòng họ này ngoài thì vẫn tỏ vẻ thần phục phương Bắc nhưng trong thì lại ngầm cất nhắc người Việt lên tất cả các vị trí quan trọng, xây dựng quân đội riêng, giảm sưu thuế, phát triển kinh tế. Ngô Vương chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng nhưng nếu không có ba đời dòng họ này âm thầm tạo nền móng tự chủ thì liệu Đại Việt có thoát khỏi nghìn năm Bắc Thuộc. Vậy mà anh xem, cả trăm cuốn sử kí hiện nay có cuốn nào nhắc đến. Người ta nhắc đến công trạng giải cứu dân tộc khỏi nghìn năm Bắc Thuộc, người ta sẽ nghĩ ngay đến Bạch Đằng Giang, nghĩ ngay đến chiến công oanh liệt của Ngô Vương, có ai nghĩ đến sự đóng góp to lớn của một dòng họ đã bị bụi thời gian phủ mờ đi.” Khúc liên nói xong, liền trút một hơi thở dài. Không gian xung quanh bị tiếng thở dài của nàng làm cho man mác buồn theo, ẩn hiện trong đó một chút tiếc thương, có cả một chút bất bình.
Trần Công Minh dường như cũng đắm chìm theo tâm sự của Khúc Liên, chợt chàng như phát hiện ra điều gì đó, liền hỏi: “Công tử cũng họ Khúc, liệu gia đình mình có phải là hậu nhân của các vị Tiết Độ Sứ năm đó.”
“Đúng vậy, chúng tôi chính là những hậu nhân ít ỏi còn lại. Quê tổ tiên của dòng họ tôi là ở đất Hồng Châu(14) cũ, nhưng rồi chiến loạn, thay đổi triều đại liên miên nên phải lưu lạc lên Phú Lương mở môn phái nho nhỏ, đến nay đã được mười đời.” Khúc Liên nói xong, dừng nghĩ một lúc, như sợ Trần Công Minh hiểu lầm, liền nói: “Tôi nói ra chuyện này không phải để kể công hay khoe mẽ dòng dõi gì đâu. Chẳng qua muốn nói với anh nhưng cuốn sử kí hiện nay đa phần bị viết theo lối nghĩ chủ quan của văn nhân, thậm chí nhiều khi còn thần thánh hóa nhân vật nào đó, thực sự chỉ đọc tham khảo chứ không nên tin toàn bộ.”
“Công tử lo nghĩ thừa rồi, tôi không có ý gì đâu.”
“Xin lỗi anh nhé.” Khúc Liên đã thoát ra được tâm trạng buồn rầu, nàng lại nở một nụ cười xinh đẹp như hoa. “Bất nhã quá, tự dưng đứng kể lể lại còn mang tâm trạng không vui vào cuộc nói chuyện.”
“Tôi còn phải cảm ơn công tử mà. Nhờ nghe công tử kể chuyện mà kiến thức lịch sử của tôi mở mang ra rất nhiều.”
Hai người nói xong không hẹn cùng quay sang nhìn người bên cạnh, ánh mắt hai người bất giác dừng lại. Lời đang ở trên môi tự dưng bay đâu hết, không ai nói gì, cứ đứng chôn chân đối diện nhìn nhau tại đó. Bên dưới dòng người vẫn tấp nập qua lại, tiếng nói cười của các cặp nam thanh nữ tú vang vọng một góc trời.
Bị một nam nhân mặc dù trông hơi ôm yếu, nhưng khuôn mặt đường nét góc cạnh vẫn rất tuấn tú, lại còn là người vừa cứu mạng mình nhìn chằm chằm ở khoảng cách gần. Hai má Khúc Liên bất giác hồng lên, chợt nàng nghĩ lại mình đang giả nam, chả lẽ người kia đã phát hiện ra rồi, nếu không sao nhìn nàng thâm ý thế. Mà cũng chưa chắc hắn đã nhận ra, vậy chẳng lẽ hắn là một kẻ thích nam nhân. Khúc Liên nghĩ đến trường hợp hai tự nhiên giật mình vội quên ngay không dám nghĩ nữa. Nàng hai tay chống nạnh, tránh ánh mắt của Trần Công Minh, quay xuống nhìn đường xá bên dưới làm ra vẻ vẫn tự nhiên hỏi:
“Nơi đây bình thường cũng không đông người lắm. Nhưng mấy hôm nay nhộn nhịp sầm uất hẳn lên anh biết tại sao không?”
Trần Công Minh nếu mà biết chỉ vì hai ánh mắt bắt gặp nhau hơi lâu một chút mà trong đầu Khúc Liên đã trôi qua những ý tưởng gì thì có lẽ chàng sẽ ngã bệnh nằm ngay tại đây. Nghe Khúc Liên hỏi, chàng quay xuống nhìn đường cái. “Ở đây có lễ hội gì sao?”
“Ha ha, tưởng anh phiêu bạt khắp nơi sẽ biết nhiều hiểu rộng, hoá ra chỉ toàn cưỡi ngựa xem hoa thôi à?” Khúc Liên mỉa mai, nếu là thân phận nữ nhi chắc chắn nàng không dám ăn nói với giọng đó, tuy nhiên hiện đang giả nam nên nàng tự cho mình quyền được phép vỗ ngực ăn nói hào sảng.
“Tôi là người chỉ quan tâm đến chuyện của giới luyện khí.”
“Nếu anh không biết thì để tôi nói cho.” Khúc Liên nhìn một cặp uyên ương đang nắm tay, mắt đắm đuối trao nhau nụ cười dưới kia, nàng nói: “Ở Khoái Châu có một ngôi đền rất nổi tiếng tên là đền Dạ Trạch(15), thờ đức thánh Chử Đồng Tử(16) và công chúa Tiên Dung(17). Anh có biết sự tích hai người này không.”
“Hồi bé tôi cũng được nghe. Công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử có duyên gặp nhau. Mặc dù bị vua cha ngăn cấm nhưng vẫn sống chết đến với nhau. Sau này còn hoá thành tiên nhân giúp dân chúng rất nhiều.” Trần Công Minh trả lời sơ qua.
“Xem ra anh cũng không phải cái gì cũng không biết.” Khúc Liên gật đầu nói. “Từ sự tích đó nên ở đây cứ thời điểm này người ta lại tổ chức lễ hội Chử Đồng Tử – Tiên Dung. Các cặp đôi uyên ương nếu lên đền Dạ Trạch cầu nguyện vào lúc này, sẽ được bên nhau trọn đời, không ai chia cách được, giống như đức thánh Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung khi xưa.”
“Thảo nào bên dưới lại có nhiều cặp đôi tay trong tay nói cười vậy.” Trần Công Minh nói.
“Nhìn họ nắm tay hạnh phúc thật đơn giản. Nhưng có những người, ngay cả cái hạnh phúc đơn giản thế cũng không tự mình lựa chọn được.” Khúc Liên nói, nhưng càng nói đến cuối thì thần sắc vừa mới vui tươi của nàng lại càng mất đi, giọng nói càng nhỏ. Nói đến hết câu thì cằm nàng đã hơi cúi xuống, đôi mắt xinh đẹp hơi nhoà lệ.
“Đời người việc đau khổ nhất chính là mất đi quyền được lựa chọn.” Trần Công Minh trầm ngâm nói, nói xong chàng quay nhìn sang thì thấy thần sắc Khúc Liên đang thay đổi nhanh chóng mặt từ vui sang buồn, chàng vội hỏi: “Ồ, công tử nghĩ đến chuyện buồn nào à?”
“À không có gì đâu.” Khúc Liên vội lấy tay gạt chút lệ vừa trào dâng ở mi mắt, nàng nói: “Cũng tối rồi, anh sức khỏe còn yếu nên về phòng đi. Vào phòng chong đèn lên mà đọc sách. Tôi về trước đây.” Khúc Liên nói xong liền quay người đi vội, có lẽ nàng không muốn Trần Công Minh nhìn tâm trạng mình lúc này.
Trần Công Minh nhìn dõi theo bóng lưng Khúc Liên đến gần khuất hành lang. Còn khoảng một ngày đường nữa là đến Thăng Long, khi đó thì chàng và cô gái này cũng mỗi người một nơi, có lẽ sẽ chẳng bao giờ gặp nhau nữa. Bất giác chàng rất muốn được nhìn thấy dung nhan thật sự của cô gái này, thậm chí Trần Công Minh còn cảm thấy một chút tiếc nuối khi phải chia xa. Bỗng chàng chẹp miệng, lắc đầu một cái như để xua tan hết đi những ý nghĩ vừa xuất hiện. Chàng chậm rãi đi về phòng mình đóng cửa lại.
Từ tờ mờ sáng mọi người đã thức dậy để khởi hành. Địa phận từ đây trở đi đều là địa bàn của các chính phái. Các luyện khí sư, đệ tử danh phái trên giới luyện khí qua lại rất nhiều, Ma Giáo đã không còn dám làm càn. Tuy nhiên để an toàn mọi người vẫn rất cẩn thận nhìn trước ngó sau, chỉ khi nào đặt chân vào Thăng Long mới có thể buông lỏng.
Quãng đường đi từ phủ Khoái Châu đến Thăng Long tương đối dễ dàng, bằng phẳng. Trần Công Minh cùng Khúc Thông và Khúc Thắng ngồi xe đằng trước, còn Khúc Liên và vị phu nhân kia ngồi xe đằng sau. Trên đường mọi người đi liên tục không dừng lại, ăn lương khô ngay trên xe. Biết Trần Công Minh có bệnh, Khúc Thắng muốn dừng lại mua cháo cho ăn nhưng chàng từ chối. Nói là mọi người đang bị kẻ thù truy đuổi cần về Thăng Long gấp, nếu mà dừng lại chỉ vì chàng thì chàng sẽ xuống xe ngựa ngay lập tức. Trần Công Minh tính tình cương quyết, Khúc Thắng đành tiếp tục cho xe chạy một mạch. Khởi hành từ sáng sớm, đến xế chiều đoàn xe ngựa đã an toàn về đến cổng thành Thăng Long.
Thành Thăng Long cao lớn vững trãi, nằm tại nơi long mạch đất trời, vương khí cuồn cuộn toát ra khiến cho con người nhìn thấy bất giác sinh lòng kính phục. Mỗi lần như thế, người ta càng thấy tài danh của vua Lý Thái Tổ năm xưa khi quyết định dời đô về đây tuyệt luân như thế nào.
Bên dưới cổng thành kiên cố của kinh thành là dòng người lũ lượt ra vào, tiếng quan binh quát vọng khắp nơi. Đoàn xe ngựa của họ Khúc sau khi được quan quân lục soát kĩ thì được cho qua.
“Trần thiếu hiệp muốn đến chỗ nào để tôi đưa đến tận nơi?” Khúc Thắng quan hoài nói, nghĩ một lúc, lão lại nói tiếp: “Sức khỏe thiếu hiệp thế này, hay cứ ở cùng gia đình chúng tôi vài bữa.”
“Cứ thả tôi ở ngã tư phía trước. Ở đó có bằng hữu của tôi đợi sẵn rồi.” Trần Công Minh mở mắt từ từ, chậm rãi nói. Chàng vốn nhắm mắt dưỡng thần trong suốt chuyến đi.
Khúc Thắng đang định nói những lời cảm ơn việc cứu mạng của Trần Công Minh, nhưng nhớ lại vị thiếu hiệp trẻ ngồi trước mặt không phải là người thích nghe lời khách sáo quá nhiều. Lão chuyển sang lời nói khác: “Gia đình tôi ở một sơn trang nằm trên đường Hoàng Sư, đối diện có một cửa hàng buôn vải tên là Bạch Ế. Mong thiếu hiệp khi nào rảnh qua chơi.” Trần Công Minh qua chơi là còn cơ hội gặp mặt, còn gặp mặt thì sẽ có cơ hội báo đáp ơn cứu mạng. Ý của Khúc Thắng chính là như thế.
“Tôi nhớ rồi,” Trần Công Minh đáp, “tôi sẽ đến khi có dịp. Đa tạ hảo ý của ông nhé.”
Đoàn xe ngựa dừng bước tại ngã tư theo ý của Trần Công Minh. Trần Công Minh cáo từ hai người trong xe rồi bước xuống, chậm rãi đi men theo con đường đá rời khỏi đoàn xe. Ở phía sau, tấm màn của một chiếc xe được vén lên, để lộ ra một đôi mắt xinh đẹp. Đôi mắt đó nhìn theo bóng dáng Trần Công Minh đầy nhu hoà, quan tâm nhưng cũng đầy nỗi buồn. Ngay bây giờ người ngồi trong xe cũng đang không hiểu sao mình lại có nỗi buồn đó.
*Chú thích:
(1) Phủ Khoái Châu: Tương đương thị trấn Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên hiện nay.
(2) Phủ Phú Lương: Tương đương tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
(3) Lộ Quốc Oai: Tương đương lưu vực sông đáy thuộc tỉnh Hà Tây cũ
(4) Phủ Thiên Đức: Tương đương tỉnh Bắc Ninh hiện nay.
(5) Lộ Khoái: Tương đương tỉnh Hưng Yên hiện nay.
(6) Ngô Vương Quyền: Còn được biết đến với tên gọi Tiền Ngô Vương (前吳王), là vị vua đầu tiên của nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam.
(7) Nam Hán: Là một vương quốc tồn tại từ năm 917 đến năm 971, chủ yếu là trong thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc (907-960), nằm dọc theo bờ biển phía nam Trung Quốc
(8) Bạch Đằng: Là tên gọi của sông Bạch Đằng, nơi diễn ra nhiều trận chiến trong lịch sử Việt Nam
(9) Hai Bà Trưng: Là tên gọi chung của hai chị em Trưng Trắc (徵側) và Trưng Nhị (徵貳), hai người phụ nữ được đánh giá là anh hùng dân tộc của người Việt. Trong sử sách, hai bà được biết đến như những thủ lĩnh khởi binh chống lại chính quyền đô hộ của Đông Hán, lập ra một quốc gia với kinh đô tại Mê Linh và Trưng Trắc tự phong là Nữ vương
(10) Bà Triệu: Còn được gọi là Triệu Ẩu (趙嫗), Triệu Trinh Nương (趙貞娘), Triệu Thị Trinh (趙氏貞), Triệu Quốc Trinh (225–248), là một trong những vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam.
(11) Lý Nam Đế: Húy là Lý Bí hoặc Lý Bôn (李賁) (503 – 548), là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lý và nước Vạn Xuân.
(12) Triệu Quang Phục: Là vua Việt Nam cai trị từ năm 548 đến năm 571. Ông có công kế tục Lý Nam Đế đánh đuổi quân xâm lược nhà Lương, giữ nền độc lập cho nước Vạn Xuân. Năm 571, ông bị Lý Phật Tử đánh úp và thua trận. Ông tự tử ở cửa sông Đáy.
(13) Dương Đình Nghệ: Có sách như Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim chép là Dương Diên Nghệ (楊筵藝, 874 – 937)[1], người Ái châu, làm tướng cho Khúc Thắng. Đời Hậu Lương, Lưu Nghiễm của nước Nam Hán tiếm hiệu vua ở đất Quảng Châu, lấy cớ Khúc Thắng chiếm cứ đất Giao Châu, sai Lý Khắc Chính và Lý Tri Thuận đánh chiếm Giao Châu. Con trai Khúc Thắng là Khúc Thừa Mĩ bị bắt. Dương Đình Nghệ dấy binh đánh bại Lý Khắc Chính. Vua Nam Hán cho Lý Tiến thay làm Thứ sử Giao Châu, Dương Đình Nghệ lại vây hãm. Vua Nam Hán sai Trần Bảo đem quân cứu Lý Tiến, Dương Đình Nghệ đón đánh chém Trần Bảo, giữ thành, xưng là Tiết độ sứ. Được tám năm, Dương Đình Nghệ bị nha tướng Kiều Công Tiễn làm phản, giết chết lên thay.
(14) Hồng Châu: Một châu thuộc Giao Chỉ thời Đường, Bao gồm một phần tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng bây giờ.
(15) Đền Dạ Trạch: còn gọi là Đền Hóa, là ngôi đền nằm ở thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, Việt Nam
(16) Chử Đồng Tử: Là một nhân vật truyền thuyết, thần thoại và là một vị thánh nổi tiếng, một trong Tứ bất tử của tín ngưỡng Việt Nam.
(17) Công chúa Tiên Dung: Là một Mị nương con gái của Hùng Vương thứ XVIII và là vợ Chử Đồng Tử.





