Slide 1
previous arrow
next arrow

9570-chuong-3-duoi-bong-dinh-lim

Chương 3:

Dưới bóng đỉnh Lim

***

Châu đột ngột thức giấc lúc vầng trăng lưỡi liềm vừa xế về nửa trời phía Tây. Cô bé dụi mắt, rướn người về phía cửa sổ và đẩy nhẹ cánh liếp đan bằng lá cọ, đủ để hé ra một khe hẹp. Từ đó cô có thể thấy những vì sao đang mờ dần, những đám mây xám xanh tan tác, những thân trám rừng tối thẫm, ken đặc như song cửa. Phía sau chúng là dãy núi mờ sương đứng im lìm như bóng ma quá vãng. Vạn vật trải ra trước mắt cô xám xịt, lạnh lẽo và cô độc trong thứ ánh sáng nhờ nhờ hư ảo của thời khắc chuyển giao trước bình minh.

Hơi lạnh chầm chậm len lỏi qua khe cửa, khiến hai cánh tay trần của Châu nổi da gà. Cô bé khép cánh liếp, gấp nhanh tấm chăn còn vương hơi ấm rồi tuột khỏi giường. Một khi đã tỉnh giấc, cô không bao giờ ngủ lại được, dẫu mệt mỏi đến đâu.

Châu nhón chân để không đánh động cha mẹ trong buồng, men theo mái hiên ướt đầm ra chỗ chum nước phía sau nhà. Không khí có mùi tinh sạch của cây lá, hoa rừng và sương đêm. Bốn bề hoàn toàn tĩnh lặng, thi thoảng có tiếng gà gáy âm âm vọng lại từ nhà hàng xóm. Nói là “hàng xóm” nhưng thực chất ngôi nhà ấy thuộc về cậu ruột của Châu, cách nhà cô một dải rừng thưa. Mỗi lần sang đó đổi trứng gà, cô phải băng qua một con suối nhỏ cùng một triền dốc thoai thoải mới thấy được cánh cổng nứa đặc trưng phủ đầy dây leo hoa tím ngát. Cậu Trình giống như mẹ cô, là người có năng lực đặc biệt nên phải sống gần rừng, nơi có nguồn nước sạch và không quá xô bồ náo nhiệt. Tuy nhiên họ vẫn được tính là cư dân làng Hanh – ngôi làng nằm dưới bóng núi Vân Lệ, không xa chỗ cậu Trình quá mười phút đi bộ. Lúc nhỏ Châu rất thích được cha dẫn vào làng, song sau một lần nghe thấy những lời xì xào ác ý sau lưng mình, niềm yêu thích ấy đã giảm nhiều. Càng lớn cô càng cảm nhận được rõ ràng hơn mối liên kết của mình với khu rừng cổ xưa, thay vì mối liên kết với những dân làng suốt đời chạy trốn quá khứ.

Dòng nước lạnh buốt cuốn trôi mảnh buồn ngủ cuối cùng trong Châu. Rửa mặt xong, cô bé thắt lại dây váy, khoác chiếc áo cánh màu chàm thường mặc khi lên rẫy giúp cha. Đoạn cô vơ lấy cây lược gỗ giắt trên cột nhà, cẩn thận chải mái tóc dài ngang thắt lưng. Chúng ngày càng dài ra nhanh hơn trước. Cô bé để một lọn tóc óng mượt chảy qua kẽ tay. Chúng có màu nâu sáng truyền từ mẹ, thay vì đen mun như cha. Tóc dài ra nhanh đồng nghĩa với việc cô sắp trở thành thiếu nữ – một sự kiện vô cùng đặc biệt đối với Tinh linh và Bán linh hoa Phai. Không giống như các họ hàng di cư từ phương Bắc, dòng Tinh linh đặc biệt này cư trú ở phương Nam từ thuở tiền đồn của Chiến Thần còn đỏ lửa. Họ bị ràng buộc với một loài hoa nhất định. Sau lễ trưởng thành, nếu là nữ sẽ có ngoại hình già trẻ theo mùa hoa, nếu là nam thì sức mạnh thay đổi theo mùa lá. Họ xinh đẹp nhất, mạnh mẽ nhất vào mùa xuân và mùa hạ, khi hoa Phai trổ lá, đơm bông; và họ trở nên già yếu, kiệt quệ vào mùa đông, khi hoa Phai héo tàn, hạt giống ngủ vùi dưới sương giá.

Dẫu chỉ mang một nửa dòng máu Tinh linh, cô bé vẫn không tránh khỏi mối ràng buộc ấy. Một đặc điểm phiền toái. Người bình thường xem đó là điều kì diệu, song đối với cô nó dường chỉ đem lại rắc rối. Ba mươi lăm năm tự do, thoải mái sắp kết thúc, để bước sang giai đoạn trưởng thành khó chịu. Cô không tưởng tượng được cảnh mình mới đêm trước còn là thiếu nữ, sáng hôm sau đã trở thành bà lão lụm cụm phải chống gậy mới đứng nổi, trong khi linh hồn bị nhốt trong thân xác già cỗi ấy vẫn trẻ trung nguyên vẹn.

Mẹ và cậu chịu được. Mày sẽ thích nghi với cuộc sống thay đổi liên tục ấy thôi. Vả lại còn tận một năm nữa. Cô bé lẩm bẩm tự động viên mình. Cô lắc mạnh đầu hòng giũ đi những suy nghĩ u ám, đoạn cẩn trọng cuốn tóc lên thành búi gọn gàng, cố định bằng một cây trâm gỗ trơn bóng.

Màn sương là là sau dải rừng đang tan dần, dải mây xám xịt gần đường chân trời cũng vẩn đi. Chân trời phía Đông chậm rãi hửng lên quầng sáng đỏ cam nhàn nhạt. Mọi vì sao đều đã lụi tắt, chỉ còn sao Mai đứng cô độc giữa ranh giới của ngày và đêm.

Châu nghe những hạt sương rơi lộp độp lên mái hiên khi cơn gió thốc qua vòm cổ thụ trước nhà, tiếng bước chân vang vọng dọc theo lối đi, tiếng lục đục quét dọn ngoài sân trước. Hẳn cha mẹ cô cũng đã thức giấc.

“Con gái dậy sớm quá.” Giọng trầm trầm vẳng đến cùng lúc với một bàn tay rắn rỏi, thô ráp vuốt tóc cô. Lời chào buổi sáng quen thuộc từ cha, ông Hãn.

Cô bé mỉm cười giữ lấy tay cha, tận hưởng hơi ấm dịu dàng từ nó. Những ngón tay phảng phất mùi cỏ dại, mùi gỗ cháy, mùi rơm rạ và mùi đất trên rẫy. “Bình thường mà cha. Mẹ cũng dậy rồi ạ?”

“Ừ. Mẹ con hình như lại mơ thấy gì đó. Lúc gần sáng bà ấy còn nói mê, có vẻ hoảng loạn lắm.” Cha cô nhíu mày, vẻ lo âu phủ trên khuôn mặt trung hậu của ông như một quầng mây bão.”Khổ nỗi cha chẳng làm gì được, kể cả việc trấn an mẹ con.”

Khả năng tiên tri khiến mẹ cô thường xuyên phiền muộn, và những lúc như thế cha lo lắng nhiều hơn gấp trăm lần. Mẹ ít khi chia sẻ những gì mình mơ thấy, trừ phi nó lặp đi lặp lại quá ba lần hoặc liên quan đến an nguy của người khác, bởi điềm báo không phải lúc nào cũng xảy ra đúng theo giấc mơ. Một gánh nặng không thể chia sẻ cùng ai. Càng đau khổ hơn nếu bất lực không thể làm gì để thay đổi tương lai thấy trước ấy. Ông già sống ẩn dật trong hang núi từng nói với Châu như vậy. Cô hi vọng sau Lễ Kiến Tạo, năng lực của mình không giống mẹ. Cô không muốn cha phải lo thêm cho một người nữa.

Châu chưa kịp nghĩ ra lời nào để động viên cha, âm thanh rền vang như sấm đã dồn dập vọng đến, xé toang cái yên lặng tịch mịch của buổi hừng đông mờ sương. Sao làng Hanh lại nổi chiêng hiệu vào giờ này? Cô bé thắc mắc.

Hai cha con quay đầu về hướng âm thanh ấy phát ra – ngôi làng ẩn sau màn khói nhoà nhạt dưới bóng đỉnh Lim, ngọn núi cao thứ ba của Dãy Vân Lệ, sau hai đỉnh Xà Cừ và Hổ Phách. Cô bé nhẩm đếm từng tiếng chiêng đồng gấp gáp, giục giã. Tổng cộng mười tiếng, kết thúc bằng năm hồi tù và rúc dài. Nỗi kinh sợ mơ hồ dội thẳng vào tim cô như nước suối mùa đông, và cô cố gắng không run rẩy trước mặt cha. Cặp mày rậm của ông Hãn giờ đã nhíu lại, khiến những nếp nhăn hằn sâu trên vầng trán cao. Ông siết tay chặt đến nỗi khớp ngón gồ lên trắng bệch. Không cần nhìn vào mắt cha, Châu cũng biết cảm xúc nào đang khuấy động trong ông.

Mười tiếng chiêng hiệu, năm hồi tù và. Hầu như đứa trẻ nào ở làng Hanh cũng biết ý nghĩa của tín hiệu đó, dẫu chúng được sinh ra rất lâu sau lần cuối cùng phường săn lên đường. Lệnh triệu tập phường săn Ma Lai sau nửa Thiên Kỉ yên bình.

Ma Lai, loài yêu quái kinh khiếp tới nỗi có thể ám ảnh giấc mộng của những người gan dạ nhất, được cho là đã tuyệt diệt ở phương Nam cùng với giống Xà Tinh khổng lồ. Những tích truyện và trường ca về chiến công của phường săn gần như trở thành một phần tuổi thơ Châu, vì cả cha cô lẫn cậu Trình đều từng chiến đấu dưới lá cờ hiệu đỏ của Phạm Thuần – Thủ lĩnh phường săn Ma Lai cách đây gần bốn mươi năm. Nhưng rồi ông ta truyền lệnh giải tán phường và biến mất bí ẩn, ngay trước khi Thành Đá Xếp sụp đổ. Sau đó Hai Vua ngã xuống, cư dân làng Thanh năm xưa tản mát tha phương khắp nơi, một nhóm đến nương náu dưới bóng núi Vân Lệ, lập ra làng Hanh bây giờ. Mọi người đều tán đồng giả thuyết năm đó Phạm Thuần đã ngả về phe kẻ thù. Ngay cả ông già ẩn dật trong hang núi – người công bằng, thông tuệ nhất Châu từng biết – cũng không tiếc lời sỉ mắng Phạm Thuần.

Cô bé thoáng nghe cha lẩm bẩm: “Không biết ai đã phát lệnh triệu tập. Họ chọn được Thủ lĩnh mới rồi sao?”

Châu nheo mắt nhìn những chấm li ti đang hối hả di chuyển trong làng. Mắt Tinh linh tinh tường hơn người thường, khi trời quang đãng họ có thể chỉ ra có bao nhiêu con hoẵng đang uống nước ở dòng sông chảy qua chân núi, phía bên kia cánh rừng mênh mông trùng điệp. Song lúc bấy giờ màn sương sớm đã cản tầm nhìn của cô bé, dẫu cố gắng đến đâu cô cũng chỉ thấy một đám người khoác áo cổ tròn tay thụng quanh quẩn gần nhà dài, kẻ đang nói chuyện với già làng có mái tóc đen ngắn, lỉa chỉa, trong tay hắn là một lá cờ đỏ sẫm như máu. Độ hai phút sau, họ rút cả vào nhà dài – nơi chỉ dành cho những buổi lễ, buổi họp quan trọng.

Mẹ Châu lặng lẽ bước ra hiên nhà, song không dõi về hướng làng Hanh. Cha đang đứng quay lưng lại nên không thấy, nhưng Châu đã để ý ánh mắt mẹ gắn chặt vào cha, khẩn thiết, tuyệt vọng. Cô biết ánh mắt đó, nó giống hệt con nai con bị mắc bẫy mà cô lén cha thả đi nửa năm trước. Nó khiến lòng cô nhói lên một nỗi buồn se sắt không rõ nguyên do. Một lần nữa Châu tự hỏi mẹ đã mơ thấy gì.

“Anh phải đi thôi.” Ông Hãn nhẹ nhàng nói, nhìn thẳng vào vợ.

“Nhưng phường săn vốn đã giải tán từ ba mươi lăm năm trước.”   Châu nghe giọng mẹ vỡ ra, ráo hoảnh. “Những luật lệ xưa cũ ấy không thể ràng buộc anh và thằng Trình nữa.”

“Phường săn không giải tán, Miên ạ. Chỉ là người đứng đầu tự rời đi. Bọn anh đã thề trước Chiến Thần, dưới ngọn cờ hiệu đỏ, bên ngọn lửa thiêng của Hai Vua, rằng sẽ có mặt ngay khi nghe chiêng nổi, tù và rúc. Lời thề chỉ mất đi chừng nào bọn anh ngã xuống.”

Ngã xuống. Châu cắn môi, cảm thấy cơn run rẩy chạy khắp cơ thể. Ruột gan cô quặn thắt khi những linh cảm tăm tối ập tới như cánh quạ.

“Chỉ là một cuộc triệu tập thôi, tình hình có lẽ không tệ như em tưởng. Anh cần biết chuyện gì đã xảy ra.” Cha tiến tới, quàng tay ôm lấy mẹ, kéo mẹ vào sát mình. Đoạn cha ngẩng lên ra hiệu cho Châu lại gần. Cô bé ngập ngừng một chốc rồi cũng tiến đến, vùi mặt vào lồng ngực ấm áp của ông.

Lòng cô thốt nhiên trống rỗng. Lọt thỏm trong vòng tay to lớn, rắn rỏi cùng bờ vai rộng của cha, hai mẹ con trông thật nhỏ bé và buồn bã.

“Hai người phải trở về đấy. Cả anh lẫn thằng Trình.” Bà Miên nghẹn giọng nói, níu chặt lấy vạt áo phai màu của chồng. “Em có linh cảm rất xấu về tín hiệu này, nhưng em không biết phải giải thích thế nào. Chỉ mong hai người có thể yên ổn trở về.”

“Đừng nói như thể anh và chú Trình sắp nhảy xuống khe núi như thế.” Ông Hãn mỉm cười trấn an, vuốt nhẹ mái tóc nâu dài chấm gót mà ông yêu. “Em biết quy luật của phường săn mà. Nếu quả thực lũ Ma Lai đã trở lại, thì cũng phải một tuần sau buổi triệu tập phường săn mới sẵn sàng lên đường. Hôm nay chắc chắn chỉ có tin tức u ám, không có hiểm nguy nào đâu, hai mẹ con đừng lo.”

“Cẩn tắc vô áy náy.” Mẹ Châu thì thào. “Nhớ gửi lời em đến thằng Trình, nó lúc nào cũng bất cẩn.”

“Anh nhớ rồi.” Cha ôm ghì hai mẹ con thêm lần nữa, rồi từ từ buông ra. Vào khoảnh khắc ấy, Châu đột nhiên muốn giữ lấy tay cha, giữ thật chặt không cho cha đến làng, không cho cha dấn thân vào cuộc săn sắp tới.

Nhưng không hiểu sao cô vẫn đứng yên một chỗ, tay buông thõng bên sườn, tê dại. Ngay cả lúc cha quay sang dặn dò cô về việc nhà, về chỗ cha chất củi gần rẫy, về việc làm cỏ cho nương ngô, Châu vẫn giữ nguyên tư thế ấy, máy móc gật đầu trước từng lời cha nói. Xong xuôi, ông xoa đầu cô và hôn phớt lên má mẹ.

“Không sao đâu. Cha sẽ về sớm.” Ông Hãn nói nhanh rồi quay đi, hối hả băng qua đồng cỏ thưa trước nhà, men theo con đường mòn dẫn xuống thung lũng.

Hai mẹ con yên lặng nhìn theo đến khi hình bóng cha mất hút sau dải rừng tối mờ, nơi ánh sáng yếu ớt vẫn chưa len nổi qua vòm lá dày đặc.

***

“Miên quá yếu so với một Tinh linh. Đấy là ta đang nói về tinh thần. Con bé lúc nào cũng sợ hãi những điều mình nhìn thấy.” Ông già ẩn dật trầm ngâm nói, run run chất thêm củi vào lò. Nhiệt độ trong hang núi luôn thấp hơn bên ngoài vài phần, dẫu tiết trời cuối xuân đang đổ nắng rực rỡ.

Châu co người dịch sát lại bên bếp lửa cháy rực. Nồi cháo ngô bắt đầu sôi lục bục, phả làn khói thơm phức vấn vít trên trần hang. Vì biết cứ lên rẫy Châu lại tạt qua thăm ông già, nên hôm nào mẹ cũng gửi cô mang vài thứ cho ông. Chủ yếu là lương thực, rau củ nhà trồng, mắm muối cùng một số vật dụng cá nhân. Ông già giống như thầy học của mẹ, dù ông luôn bảo mình chỉ là một lão già lẩm cẩm không xứng làm thầy ai. Mẹ kể rằng ông từng dạy mình nhiều điều, dẫu cuối cùng mẹ vẫn không muốn – đúng hơn là không thể trở thành một pháp sư đúng nghĩa. Khả năng nổi trội duy nhất của bà Miên là tiên tri, song bà lại luôn lâm vào hoảng loạn, lo âu vì nó.

“Cháu ước gì mẹ chia sẻ thêm với cháu… hoặc cha.” Châu vòng tay ôm lấy chân mình, hạ đầu xuống giữa hai đầu gối. “Từ lúc cha đi, mẹ gần như không tập trung làm gì được, nhưng cháu gặng hỏi thế nào mẹ cũng khăng khăng một câu ‘đó chỉ là giấc mơ’”.

“Hãn đi vì lệnh triệu tập ban sáng à?” Ông già ngừng khuấy nồi cháo. Cặp mày điểm bạc của ông nhíu chặt lại không khác gì cha khi nghe chiêng hiệu. Ông đằng hắng vài tiếng rồi tiếp tục: “Khu rừng này đúng là bắt đầu có mùi, song ta không nghĩ phường săn lại tập hợp sớm như vậy, sau từng đó năm giải tán. Ta tò mò không biết Thủ lĩnh mới của họ là ai.”

Ông già nhấn vào hai chữ Thủ lĩnh với vẻ chua chát đến độ Châu thiết nghĩ ông phải ghét cay ghét đắng Thủ lĩnh tiền nhiệm của phường săn, Phạm Thuần. Dẫu vẫn chưa có bằng chứng nào cho thấy ông ta phản bội Hai Vua. Nhưng có điều khiến cô bận tâm hơn chuyện ân oán mập mờ trong quá khứ. “Ông nói ‘có mùi’ là sao ạ?”

“Lũ quái vật cổ xưa đang thức giấc, không phải theo cách thông thường, mà là bằng một thứ tà thuật triệu hồi gớm ghiếc nhất Xứ Khuê. Tà thuật ấy nồng nặc mùi thối rữa đặc trưng, người nào còn sống sót trở về sau khi đối mặt với nó sẽ không quên được. Ta ngửi thấy nó từ năm năm trước, mỗi ngày một đậm dần. Lũ Ma Lai này hẳn là đòn thăm dò đầu tiên. Kẻ cầm đầu chúng, lão cá sấu Tà Bộc e ngại vì kẻ thù truyền kiếp sắp quay về trả mối thù trong quá khứ.” Ông già bật ra một âm thanh nghe như tiếng cười cay đắng. Đôi mắt nâu rất sáng của ông dõi theo những đường khói lễnh loãng trên trần hang – hoặc cũng có thể là điểm bất định nào đó trong quá khứ. “Thật mỉa mai, năm xưa ta không hề nghĩ mình sẽ còn sống đến ngày được thấy hậu duệ của Hai Vua trở lại. Nhiều kẻ can trường, nhiều người lương thiện đều đã ngã xuống mà không kịp thấy ngày ấy.”

“Hậu duệ của Hai Vua có phải là người con trưởng đã bỏ đi không ông? Vị pháp sư không kế thừa được phép thuật hệ Hoả của vua cha.” Cô bé hỏi nhỏ, khi những câu chuyện ông già từng kể dần quay lại tâm tưởng. Nỗi lo dành cho người cha trong phường săn càng dấy lên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. “Một ngày nào đó Ngài ấy sẽ dẹp bỏ mọi hiềm khích và trở về đây sao?”

“Ta không biết, cháu gái nhỏ ạ. Vả lại ta không nghĩ hệ phép thuật của người đó thích hợp cho tình hình hiện tại. Bóng tối đã ngự trị Thành Đá Xếp ba mươi lăm năm nay, giờ lão quái vật cầm đầu sắp vươn dài móng vuốt đến các vùng lân cận. Cuộc chiến định mệnh không còn xa, và chúng ta cần một người đủ khả năng thắp lên ngọn lửa của Hai Vua để lại.” Ông già đáp ngay. Thay vì gọi tên, ông luôn gọi cô là “cháu gái nhỏ” dù giữa họ không có mối liên hệ huyết thống nào – hơn nữa Châu cũng sắp làm Lễ Kiến Tạo, chẳng còn bé nhỏ gì cho cam. Song cô bé yêu cách gọi ấy, nó vô thức gieo vào lòng cô sự ngọt ngào trìu mến kì lạ.

Cô bé đăm đăm nhìn ông già tất bật sau màn khói nghi ngút. Không rõ tự khi nào cô đã xem ông như ông ngoại mình. Không ai biết ông đến từ đâu, tên thật của ông là gì, vì sao ông lại chọn cuộc sống cô độc lạnh lẽo trên núi, với hang núi tối tăm làm nhà và một mảnh đất nhỏ chỉ đủ trồng vài hàng khoai, hàng bắp. Theo lời cậu Trình, có lẽ ông già đã sống ở đây từ trước khi làng Hanh được lập nên. Ông như trở thành một phần của núi rừng, một phần hiển nhiên đến độ không ai nghi ngờ xuất xứ. Tuy tóc đã pha sương và cơ thể đã mất hẳn sự dẻo dai linh hoạt, trí óc ông vẫn minh mẫn, thông tuệ hơn bất kì pháp sư kì cựu nào.

Châu thích nhất là được nghe ông kể chuyện quá khứ, về thời vàng son của Hai Vua ở Thành Đá Xếp, những dòng họ tinh linh và pháp sư từ phương Bắc vào khai phá miền Nam, về kinh đô Minh Dương, các Thượng Thần cùng vô vàn truyền thuyết li kì từ thuở Xứ Khuê còn non trẻ. Ông cũng rất rành rẽ quy luật sử dụng phép thuật, cách phân loại pháp sư, cách rèn luyện các kĩ năng cần thiết. Vì một lí do nào đó mà phép thuật đã rời bỏ ông, nhưng Châu cảm thấy ngọn lửa kiêu hãnh của pháp sư vẫn đang cháy trong trái tim già nua kia, thay vì sự mệt mỏi do tuổi tác thường thấy ở những cụ ông cụ bà. Cô thật lòng biết ơn ông đã chọn chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức tích luỹ một đời của mình với một pháp sư non nớt như cô.

“Dạo này cháu còn luyện tập phép thuật không?” Ông già đột ngột lên tiếng.

“À… thỉnh thoảng ạ.” Cô bé cúi đầu thấp hơn nữa, nghe mặt mình hơi nóng. Cô sực nhớ thằng Kỳ con cậu Trình đêm nào cũng dành vài giờ luyện vẽ bùa bằng nước suối. “Cháu xin lỗi, do mùa gieo hạt vừa rồi nhiều việc quá. Cha lại mới khai phá thêm hai mảnh rẫy trên đồi sau nhà, mảnh nào mảnh nấy đi cả ngày cũng chưa hết.”

“Vất vả cho cháu rồi. Ông không có ý trách móc gì đâu, chỉ là pháp sư trẻ nếu không thường xuyên vun đắp mối liên kết với yếu tố tự nhiên, khi cần sẽ rất khó khơi dậy chúng, lại còn dễ bị chúng nuốt chửng.” Ông già nhẹ giọng, múc cháo ra một cái chén mẻ vành. Ông định múc thêm một chén mời Châu ăn cùng, song cô bé vội vàng ngăn lại, bảo mình đã ăn no ở nhà trước khi lên rẫy.

“Nếu cháu không ngại, có thể mượn tạm bộ cung tên quý giá trong ngách hang kia để luyện vài đường, trong khi ta xử lí bữa sáng.” Ông già vừa nói vừa thổi cho cháo nguội. Đoạn ông hất đầu về phía vách hang đối diện, nơi đá tách ra thành một khe đủ rộng để giấu đồ, giả vờ nghiêm trọng như thể ông vừa chỉ cho cô bé vũ khí gia truyền mình gìn giữ bao nhiêu năm. Châu bật cười: “Ông này, chính tuần trước ông đề nghị cháu giấu cung tên vào đó cho tiện mà.”

“Thỉnh thoảng vấn đề tầm thường cũng nên gia giảm thêm chút gia vị cho bớt nhàm chán, giống như ăn cháo phải nêm muối.” Ông già mỉm cười. “Tập đi rồi ta sẽ chỉ thêm vài kinh nghiệm cần thiết cho Thanh Nhân hệ Kim và hệ Thổ. Những ngày tháng sắp tới sẽ tăm tối, ngập ngụa tà khí hơn bao giờ hết, và làng Hanh chắc chắn sẽ cần đến một Thanh Nhân.”

“Vâng.” Châu nghe tim mình nhói lên một nỗi sợ hãi không tên, sắc lạnh, nhọn hoắt tựa mũi chông mũi giáo. Không biết khi nào cha mới về. Cô bé bồn chồn khoác bao tên, kiểm tra nhanh dây cung xem có bị chùng, lỏng hay cần chuốt sáp ong không, đoạn hướng ra cửa hang, đi qua bên dưới mái hiên lợp cỏ gianh ngả màu nâu xỉn – cha đã giúp ông già làm lại nó vào mùa mưa vừa rồi.

Vầng dương lơ lửng ngang trời, nắng đầu ngày đổ rực rỡ xuống những ngọn đồi rậm rịt cây lá, những nương ngô, nương khoai xanh mướt nơi lưng chừng dốc, những con đường mòn đỏ quạch lún phún cỏ dại, những dòng suối loáng ánh bạc chậm rãi uốn mình qua chân núi như dải lụa mềm mại, những vách đá xám cheo leo được điểm xuyết bằng từng cụm hoa rừng đỏ tươi, trắng muốt và tím biếc. Bên tay trái cô, đỉnh Lim sừng sững cắt hình rõ rệt trên nền trời, ngả bóng xuống làng Hanh bên dưới. Chếch phía Tây Bắc là hai đỉnh Xà Cừ, Hổ Phách vút cao kiêu hãnh, nắng lấp lánh dát vàng cho chúng. Thế giới trước mắt cô trải rộng dưới bầu trời cuối xuân xanh lơ không gợn mây, yên ả và rạng rỡ, chẳng có dấu hiệu nào báo trước cái tương lai u ám ảm đạm mà ông già nhắc tới.

Song quang cảnh tươi đẹp, bình yên của miền Nam Xứ Khuê không khiến nỗi lo trong Châu phai nhạt đi chút nào. Cô cố giũ mình khỏi những câu chuyện về loài Ma Lai đáng sợ, về Chằn Tinh khát máu trong rừng My, và về lão Tà Bộc hung ác nửa người nửa cá sấu. Cư dân làng Hanh đều là những người tháo chạy khỏi tàn tích của Thành Đá Xếp sau khi Hai Vua hi sinh, mong thoát khỏi nanh vuốt của Tà Bộc, nhưng nếu lão không muốn buông tha họ…

Mình là một pháp sư, một nửa dòng máu Tinh linh hoa Phai đang chảy trong mình. Nàng Yến, người chọn ở lại Thành Đá Xếp cùng người mình yêu, quyết tử với Tà Bộc nhằm cản đường cho cư dân chạy thoát cũng là Tinh linh hoa Phai. Cô bé thầm nhủ, trượt xuống một triền dốc thoai thoải để đến bãi đất cô thường luyện tập, nằm giữa bìa rừng và một sống đất gồ lên chừng bốn Đạc. Bãi đất không có cỏ, chỉ có những loại cây nhỏ xíu lá tròn bò lan trên đất, cùng vô số tảng đá đen đủ hình đủ dạng trồi lên khắp nơi, phù hợp để làm bia ngắm. Bình thường không ai dại dột bắn tên vào đá, nhưng pháp sư hệ Kim và hệ Thổ là ngoại lệ. Nếu điều khiển thành thạo, luồng khí của họ dễ dàng giúp mũi tên xuyên vào đá như xuyên vào bia giấy hoặc bia rơm.

Khác với các pháp sư con người, pháp sư xuất thân từ dòng Tinh linh thường mang đến hai hệ phép thuật tương thích trong người, như Thuỷ và Mộc, Mộc và Thổ. Trùng hợp thay, Châu mang hệ Kim và Thổ, nhưng không đồng đều như Tinh linh thuần huyết. Hệ Thổ của cô yếu hơn hẳn và rất khó khơi dậy – một trong những thiệt thòi của Bán linh.

Cô bé trèo lên mỏm đá hẹp gần nhất, giữ thăng bằng trên một chân. Gió lồng lộng thổi tung vạt áo và tà váy dài của cô. Năm ngón chân quặp chặt vào sống đá chênh vênh, cô bé rút mũi tên đầu tiên, nhắm vào mảng địa y nhỏ xíu trên tảng đá gần sát bìa rừng. Cứ thế, cô bé lần lượt xoay người bắn vào những đích nhắm từ trước. Trên, dưới, phải, trái, trước, sau, đến khi chỉ còn lại vài mũi tên trong bao. Cô hài lòng vì chỉ có một mũi hơi chệch và chân mình không còn run như lúc mới tập. Hai luồng khí Kim, Thổ một lạnh, một ấm chảy rần rật trong từng thớ cơ, không có vẻ gì là sẽ lồng lên mất kiểm soát. Những nơi tên cắm vào đều nổi lên những dải hoa văn ánh kim toả tròn, vài phút sau chúng lại lặn hết vào mặt đá đen.

Châu đã luyện tập theo lời khuyên của ông già gần năm năm, việc điều khiển phép thuật không còn quá chật vật. Thanh Nhân không phải dùng lực quá mạnh như Chiến Sư hay kiểm soát một không gian rộng như Thầy Bùa, kĩ năng quan trọng nhất họ cần rèn là thăng bằng và chuẩn xác.Quan sát đúng nơi, lựa đúng thời điểm, nhắm trúng đích. Ở Xứ Khuê, chỉ Thanh Nhân mới có khả năng xác định tâm của các luồng tà khí hoặc sát khí, Nếu tấn công vào điểm khởi phát ấy, luồng ác khí nọ sẽ tự động tiêu tan, không còn đe doạ những đồng đội đang cận chiến. Tuy nhiên giữa một trận chiến hỗn loạn hoặc một không gian đầy chướng ngại vật, nhiệm vụ trên không hề dễ dàng như lý thuyết. Bởi vậy Thanh Nhân không chỉ nhìn bằng mắt, họ buộc phải phát triển độ nhạy bén của cả năm giác quan để hạn chế sai lệch.

Châu không biết bao giờ mình mới đạt đến chuẩn ấy. Ngoài tầm nhìn thiên phú của Tinh linh, cô bé mới chỉ xác định đích ngắm được bằng thính giác, và vẫn còn đang gặp rắc rối với khứu giác. Ông già bảo “mắt” của luồng ác khí có mùi đặc trưng không thể nhầm lẫn, khổ nỗi cô chưa bao giờ tiếp xúc với tà khí hay sát khí. Với những tảng đá trước mặt, cô chỉ còn cách bắn trước một mũi tên thăm dò, rồi dựa theo mùi sắt từ đầu tên để bắn mũi thứ hai có phép thuật, nhưng cũng thường xuyên bị chệch.

Nghĩ đến đó, cô bé quyết định thử thêm một lần nữa. Vẫn đứng trên một chân, cô khép mắt và chầm chậm xoay sang phải, giương cung bắn liền hai phát.

Tai Châu vừa nghe đầu tên chạm vào đá, mùi tanh của kim loại lập tức xộc lên, nhanh chóng đặc quánh lại như mùi máu tươi vừa đổ. Luồng khí dữ dội lúc bỏng rẫy lúc lạnh buốt ập tới suýt hất tung cô khỏi mỏm đá.

Loạng choạng lấy lại thăng bằng, cô bé hoảng hốt mở mắt, vừa kịp nhìn thấy một cái đầu cá sấu trồi khỏi phiến đá, một cái đầu đá hung tợn tua tủa gai, hàm ngoác rộng phô bày răng nanh trắng ởn, nhọn hoắt. Và đáng sợ nhất là đôi mắt – đôi mắt xanh lạnh băng ngùn ngụt căm hận xoáy thẳng vào cô, như muốn ăn tươi nuốt sống. Châu cảm nhận được cơn buốt rợn chạy dọc sống lưng mình, tâm trí cô điên cuồng hối thúc mau đứng lên bỏ chạy, nhưng đôi chân bủn rủn dường không muốn nghe lời.

Hàm răng khổng lồ kia bập xuống, cắn gãy hai mũi tên của Châu, rồi nghiền chúng thành từng mảnh vụn.

Mày là cái thá gì, con nhãi Bán linh lai tạp bẩn thỉu. Âm thanh khò khè đáng sợ xen lẫn với những tiếng gầm gừ kinh khiếp dội vào tai cô. Châu gập người bịt chặt tai, nhưng đầu cô vẫn ong ong như thể âm thanh ấy đã hoá thành tiếng sấm, không ngớt nện vào tâm tưởng. Ruột gan cô quặn thắt, cơn buồn nôn dâng lên dữ dội. Luồng khí đầy cuồng nộ kia giờ đã phủ ngập không gian, cuộn tung cát bụi, đá sỏi và giật phăng những thân cỏ mỏng mảnh. Cây trâm gỗ tuột đi, mái tóc nâu búi chặt xổ ra, rũ rượi, rối bời. Mày là cái thá gì mà dám dùng thứ phép nửa mùa ấy trên đất của tao. Tụi mày là cái thá gì mà dám đốt thành tao… cướp đất tao… huỷ hoại tao… Tao phải xẻo thịt, thiêu sống, ăn gan, uống máu cả lũ chúng mày…

Tẩy trừ nó đi. Ngươi là Thanh Nhân cơ mà? Giọng gay gắt vọng bên tai Châu, song chẳng mấy chốc nó đã chìm nghỉm dưới những tràng nguyền rủa điên dại.

Cô bé cuộn người trên mỏm đá, vùi mặt vào đầu gối, tuyệt vọng cầu khẩn các Thượng Thần, các nữ chúa không tên của đại ngàn, các vị vua huyền thoại trong quá khứ. Châu không biết mình giữ tư thế ấy bao lâu, chỉ biết khi cô chầm chậm ngẩng lên, tay chân mỏi nhừ, run rẩy còn đầu đau như búa bổ, không gian xung quanh đã hoàn toàn trở lại bình thường, tứ bề chỉ có tiếng chim lảnh lót và tiếng gió đùa trong cỏ. Không có giọng căm thù nào, không có luồng khí kì quái lúc nóng lúc lạnh, và trên hết không có cái đầu cá sấu gớm ghiếc trồi khỏi tảng đá trước mặt. Nhưng những mảnh vụn của hai mũi tên vung vãi trên nền đất nhắc Châu chuyện vừa rồi không phải là ảo ảnh.

Châu từ từ bỏ tay khỏi tai, thảng thốt khi thấy má mình ướt lạnh – nước mắt đã vô thức ứa ra trong cơn hoảng loạn. Cô lau nước mắt bằng vạt áo, gạt bớt những lọn tóc nâu loà xoà về một bên. Nỗi kinh hoàng đã phai đi phần nào, nhường chỗ cho cơn giận cùng nỗi xấu hổ tột cùng.

Đến một mũi tên cũng không dám bắn. Thậm chí còn không dám nhìn thẳng vào hắn lần nào. Thật thảm hại. Châu chua chát nghĩ, bấu tay trên nền đá cứng đến khi mười đầu móng đau nhức.

Không còn lòng dạ nào luyện tập, cô bé nhặt cây cung nằm chỏng chơ dưới kẽ đá, nhanh chóng thu gom những mũi tên đã bắn trước đó, rồi chạy hết tốc lực về lại hang núi của ông già ẩn dật.

***

Khuya hôm đó cuộc triệu tập vẫn chưa kết thúc. Ở bãi đất trung tâm làng Hanh, ngay phía trước nhà dài, người ta đã đốt một đống lửa rất lớn, xung quanh còn có thêm vài chục ngọn đuốc cháy rừng rực. Quầng sáng đỏ cam soi tỏ đến tận rìa làng, hệt như đoá hoa lửa vừa bừng nở giữa rừng hoang đêm lạnh. Hơi ấm của nó dường lan tới tận cửa nhà, nơi Châu đang đứng ngóng cha. Ánh lửa bập bùng hoà cùng tiếng chiêng rền, tiếng cồng vang, tiếng trống âm âm tạo nên một bầu không khí huyền hoặc, linh thiêng mà cô bé những tưởng chỉ tồn tại trong những câu chuyện cổ. Cô khẽ rùng mình, không biết là do nỗi lo không yên, nỗi phấn khích choáng ngợp, niềm khát khao được dự lễ, kí ức về sự cố trong buổi luyện tập lúc sáng hay chỉ đơn giản là do sương đêm xuống mỗi lúc một nhiều.

“Cuộc chiến định mệnh không thể tránh khỏi, và chúng ta cần một người đủ khả năng thắp lên ngọn lửa của Hai Vua để lại.” Ông già ẩn dật buồn bã nói.

“Vào ngủ sớm kẻo lạnh con à.” Bà Miên nhẹ giọng, tiến tới quàng tay quanh vai cô. “Kiểu này sớm nhất cũng phải trưa mai cha con mới về.”

“Vâng.” Châu đáp, dời mắt khỏi đoá hoa lửa rực rỡ kia. Cô lờ mờ nhận ra mình đã sắp cao bằng mẹ, một phát hiện không biết nên vui hay buồn. Đã quen sống trong bầu không khí trìu mến, ấm cúng của nhà ba người, cô không tưởng tượng được ngày mình phải rời xa cha mẹ vì một lí do nào đó – nhiệm vụ của pháp sư hoặc chỉ đơn giản là tới tuổi lấy chồng. Cô bé không dám để dòng suy tưởng lạc tới những vấn đề u ám hơn như chiến tranh, di cư, loạn lạc.

“Mẹ, hôm nay con ngủ với mẹ được không?” Châu hỏi nhỏ. Sợ mẹ lo lắng, cô bé bèn thêm: “Cho đỡ vắng. Nhà rộng mà chỉ có hai mẹ con.”

“Được chứ, giống như hồi con còn nhỏ. Nói mới nhớ, lâu rồi mẹ con mình không ngủ chung, bắt đầu từ khi con luyện phép tẩy trừ thì phải.” Mẹ cô mỉm cười đáp ngay, xoa đầu đứa con gái. “Nhưng nếu có chuyện khúc mắc gì, cứ chia sẻ với mẹ, đừng ngại.”

“Không có gì đâu ạ.” Châu lắc đầu, nhưng không thể giũ đi hình ảnh con cá sấu trồi khỏi tảng đá, với hai hàm răng khổng lồ sắc như dao và tiếng khò khè nguyền rủa rợn óc. Cô nhớ lại vẻ mặt sa sầm của ông già khi nghe chuyện, có điều ông không bình luận gì thêm, cũng không giải thích vì sao cái đầu cá sấu xuất hiện, chỉ khuyên cô nên hạn chế xuống bãi đá một mình. Cô bé có hàng trăm thắc mắc muốn hỏi ông, nhưng lại chẳng biết bắt đầu từ đâu, bởi chính cô cũng sợ nhắc quá nhiều về con quái vật ấy. Thành thử cuối cùng họ chuyển sang chủ đề những kinh nghiệm cần thiết cho Thanh Nhân. Trước khi về nhà, Châu tỏ ý ái ngại cho ông già – đơn độc giữa rừng núi quạnh quẽ, nơi lũ quái vật có thể tràn ra bất cứ lúc nào. Đáp lại nỗi lo của cô, ông chỉ mỉm cười khó hiểu. Rồi một ngày ta sẽ nói cho cháu, cháu gái nhỏ. Chúng không thể tràn lên hang núi này được đâu, dù là Ma Lai hay Chằn Tinh. Giờ cháu chỉ cần biết như vậy.

Hai mẹ con thủ thỉ nói chuyện một lúc, chẳng mấy chốc Châu đã thấy mắt mình díu lại. Hôm nay là một ngày quá dài. Cô bé kéo tấm chăn dày lên đến tận cằm rồi để cơn buồn ngủ phủ xuống mình như một làn sương êm dịu. Đống lửa lớn ở làng Hanh vẫn đang cháy, ánh lửa chập chờn hắt qua những khe liếp thành vô số ngôi sao đỏ rung rinh nhảy múa. Gió xao xác thở dài trên mái nhà đầy xác lá.

Giấc mơ kì lạ ấy đến rất nhanh, có lẽ là do ảnh hưởng từ năng lực của mẹ cô. Châu nghĩ mình mới chỉ chợp mắt được vài giây.

Đầu tiên, bàn chân cô chạm xuống nền cỏ êm mượt như nhung, sau đó một mùi hương ngan ngát thân thuộc ùa vào mũi. Gió nhè nhẹ mơn man qua tóc, và cô bé cảm nhận được những giọt mưa lây rây mát lạnh trên da thịt.

Cô lập tức mở mắt, nhận ra mình đang đứng bên một dòng sông rất lớn, xa xa là một ghềnh thác hùng vĩ bọt tung trắng xoá. Hoa Phai vàng rực, thơm ngát nở rộ hai bên bờ, đâu đâu cũng là một sắc vàng rợn ngợp.

Hàng ngàn cánh hoa mềm mại cọ vào váy cô, khi Châu chầm chậm bước về phía sông để nhìn rõ hơn. Cảm giác giấc mơ này đem lại vô cùng chân thực, đến độ cô bé sợ rằng trong lúc ngủ đã có người âm thầm đưa mình đến đây. Hơn một tháng nữa Hoa Phai mới nở rộ được thế này. Cô thầm nhủ, lướt tay dọc theo những thân hoa chi chít lông tơ, những chiếc lá xanh mơn mởn xẻ lông chim nổi rõ từng đường gân, những nhuỵ hoa vàng sẫm xoè rộng như tia mặt trời.

Châu phát hiện cô không ở một mình.

Có người đang lặng lẽ đứng sau màn sương bên bờ đối diện. Một thiếu niên khoác áo choàng tay thụng, vạt áo dài đến mắt cá, bên trong là áo đen cổ tròn đơm cúc bạc, lưng giắt cây rìu đá cán dài. Cậu ta có mái tóc đen chuyển hung đỏ rất kì lạ. Không biết do khoảng cách quá xa, do dải sương lãng đãng hay do những giới hạn của giấc mơ mà Châu không tài nào nhìn rõ mặt cậu. Cậu thiếu niên đứng im lìm, dường không nhận ra sự có mặt của Châu.

Con sẽ gặp cậu ta sớm thôi, hậu duệ của ta. Giọng nói như hợp từ hàng trăm hàng ngàn tiếng xào xạc vẳng đến. Châu có cảm giác như cả đồng hoa Phai đang cất tiếng cùng một lúc.

Khi nào ạ? Cô bé khẽ hỏi.

Khi ngọn lửa của Hai Vua tìm được người thừa kế. Tiếng xào xạc giờ nghe có vẻ buồn bã bất thường. Cơn run rẩy chạy khắp cơ thể cô khi những lời tiếp theo cất lên, rành rọt từng từ.

Định mệnh truyền đời của chúng ta không còn xa. Lửa sẽ bùng cháy từ đồng hoa Phai, nước sẽ tuôn trào từ thác Mặt Trời khô cạn. Những biến chuyển lớn lao sắp xảy đến, đi cùng với nó là những cuộc chiến tàn khốc, những chiến công vĩ đại, những cái giá khủng khiếp phải trả và những nỗi đau buồn vĩnh viễn không phai.